Monday, March 5, 2018

GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 11) Hồi cư về Sài Gòn (1)

Thành phố Sài Gòn, sau những tháng dài chìm trong khói lửa chiến tranh, nay đã có một gương mặt khác. Sự thay đổi không phải chỉ nhận thấy ở cảnh vật bên ngoài mà hình như lúc nào cũng thấy bàng bạc trong tâm tư của những người hồi cư. Ý tưởng so sánh những sự việc ngày trước và bây giờ lúc nào cũng thấy xảy đến trước các tình huống mới. Ðặc biệt nhất là vì các thay đổi vật chất. Trong suốt các năm tháng của thời Ðệ nhị Thế chiến, vì giao thông với Âu châu và nhất là Pháp bị gián đoạn nên dân chúng đã tìm cách vận dụng các sản phẩm nội địa để thay thế các sản phẩm không còn được nhập cảng. Bột bắp và bột gạo chẳng hạn đã được pha trộn theo nhiều công thức để làm bánh mì, thay thế bột mì rất khan hiếm trên thị trường. Quần áo phần nhiều được may cắt bằng các loại vải sản xuất trong nước, loại vải thường được gọi là “vải 8”, sần sùi, trông thô kệch nhưng rất chắc chắn. Nay thì trên các chợ, dân chúng đã thấy bắt đầu kén chọn, thích mua bánh mì làm bằng bột mì nhập cảng, được những người được phát “bon” để mua nhưng đã được đem bán ra từ những lò bánh mì mới, có tên lạ như Vita, Moderne... Một số đông dân chúng nay đã may mặc áo quần với vải sồ đắt tiền, nhiều màu sắc hơn. Những chiếc xe đạp mới nhập cảng nhất là hiệu Peugeot, là niềm hãnh diện của các chủ nhân tốt số đã lãnh được phiếu mua xe. Các trường công và tư đã được khuyến khích mở cửa hoạt động trở lại. Trung học Petrus Ký đã trở về vị trí trước kia ở đường Nancy nhưng không còn tiếp tục mở các lớp Cổ điển La tinh Métro (Métropolitain) hay Cổ điển Viễn Ðông É.O.(Extrême-Orient) vì thiếu giáo sư? Nhiều khóa thi đặc biệt về Tú tài (Session spéciale) đã được tổ chức như ở Pháp cho các thanh niên đã phải bỏ học vì chiến tranh. Chương trình học dự thi được thâu ngắn nên nhiều học sinh Việt Nam tốt nghiệp bằng Thành Chung đã ghi tên và thi đậu Tú tài rất dễ dàng. Nhiều bạn quen đã thúc giục Triệu ghi tên đi thi nhưng ông ngoại của Triệu khuyên Triệu chỉ nên tiếp tục học như thường lệ, không nên chọn con đường “đi tắt”vì sẽ thấy thiếu căn bản nếu tiếp tục lên cấp Ðại học. Triệu đã thăm dò, định trở lại ghi tên xin học lại ở Petrus Ký nhưng ở các lớpTú tài, phần lớn các học sinh nay đều là những gương mặt mới. Rất ít những bạn cũ ngày xưa đã trở lại, phần nhiều vì đã hoặc đi vào khu theo kháng chiến, hoặc đã tản lạc về quê. Một số bạn khác đã bỏ mình trong thời biến động. Ðau thương nhất là tin hơn mười bạn cũ của Triệu ở Gò Công, những người bạn có tâm huyết một lòng yêu nước, lại bị chánh quyền Việt Minh đem ra xử tử ở sân Vận động của tỉnh! Các bạn này, như Trần Thanh Mậu, Dương Văn Ðức, Nguyễn Văn Phương ở làng Vĩnh Lợi..., trước kia đã có công vận động đánh thức lòng yêu nước của dân chúng tỉnh bằng cách tổ chức những buổi trình diễn văn nghệ theo những kinh nghiệm đã làm ở thủ đô Sài Gòn dưới sự hướng dẫn của các sinh viên từ Hà Nội trở về.
Làm được những việc này trong thời thực dân Pháp còn đang ngự trị là một việc cần nhiều can đảm. Việt Minh, có lẽ vì sợ các bạn trẻ này có thể lôi cuốn quần chúng hơn họ là những người từ trong bóng tối đi ra, nên họ đã gán ghép cho các thanh niên bồng bột này những lý do nào đó để có cớ thủ tiêu họ? Triệu được biết là để giải cứu các bạn này, đảng Tân Dân Chủ đã phái Ðặng Ngọc Tốt về Gò Công can thiệp nhưng đã chẳng có kết quả gì. Tốt chỉ có được phép ôm vỗ về các anh em này trước giờ hành quyết mà thôi! Các anh bạn này ngày trước vẫn vui đùa, rủ Triệu phải cố gắng tìm dịp về thăm Gò Công để các anh đãi cho món ăn đặc biệt: bánh giá Gò Công. Vì câu nói đó mà mỗi lần có dịp được ai đó mời ăn bánh giá, Triệu đã phải xin chối từ trước vì đã có nhiều lần đã phát khóc nhớ các bạn cũ trước dĩa bánh.
Một số đông các giáo sư danh tiếng cũ của trường Petrus Ký cũng không còn trở lại dạy. Một số đã đi vào khu theo kháng chiến như giáo sư Phạm Thiều, Nguyễn Văn Chì, Nguyễn Văn Chí, Lê Văn Cẩm, Ðặng Văn Trứ v.v... Một số khác hình như chưa có ý định hợp tác với chánh quyền mới nên còn lánh mặt. Trong khi đó, ở trường Chasseloup Laubat, trước kia vốn chỉ nhận học sinh có quốc tịch Pháp nay lại đồng ý thâu nhận học sinh Việt có học bạ tốt nên Triệu đã xin ghi học ở đây. Ðặc biệt trường nay lại có được ban giáo sư mới, phần đông tốt nghiệp ở các Ðại học danh tiếng của Pháp. Các giáo chức mới này phần đông thuộc thành phần trẻ, tốt nghiệp sau Ðệ Nhị Thế Chiến, tâm hồn rất cấp tiến, chưa nhiễm thói của thực dân Pháp kém học thức trước kia. Các giáo sư dạy Pháp văn lại rất có cảm tình với Triệu sau khi đọc các bài luận của Triệu. Họ cứ vặn hỏi xem Triệu đã từng học với các giáo sư nào mà được uốn nắn viết tiếng Pháp trôi chảy như vậy. Triệu phải thú thật là từ trước, Petrus Ký thuộc loại trường Trung học bổn xứ nên giáo sư Pháp văn mỗi năm vẫn thay đổi thường xuyên. Triệu vì thế, không có được một giáo sư nào là vị thầy chánh. Triệu viết Pháp văn khá có lẽ nhờ mượn được sách đọc của tủ sách của gia đình Nguyễn An Ninh ở đường Hàng Thị Gia Ðịnh và cũng có thể là vì đã thích thú đọc tới đọc lui trên hơn nhiều lần bộ “Les Misérables”của nhà văn Victor Hugo nên đã nhiễm được lối hành văn của tác giả nầy? Thế là từ nay, Triệu ngày hai buổi đạp xe đến trường, gặp gỡ nhiều bạn học mới, phần đông thuộc những gia đình của giai cấp thượng lưu Sài Gòn. Lề lối ăn mặc, luận điệu nói năng của các bạn này khiến Triệu cảm thấy mình như bị hụt hẫng đi lạc vào một thế giới xa lạ. Chỉ có những khi đến thơ viện thành phố tìm tài liệu, gặp lại một số bạn cũ trường Petrus Ký, kiểm điểm lại những gương mặt kẻ còn người mất, những thăng trầm của những tháng năm tao loạn... Triệu mới thấy thật sự đã sống lại cái không khí phù hợp với quá khứ của mình. Triệu cảm thấy cuộc sống trong một thế giới tương đối thanh bình của thành phố, trong khi cuộc tranh đấu giành độc lập của dân tộc vẫn đang tiếp diễn, là một chuyện trái khoáy. Nhờ được có cơ hội gặp lại các bạn cũ, trao đổi tin tức, biết được một phần nào tình hình chiến sự. Lần lần Triệu đã nắm bắt lại được những đường dây liên lạc với các tổ chức đang bí mật hoạt động ở nội thành. Triệu bắt đầu thấy tâm tư nay đã bớt các thắc mắc, bớt cái mặc cảm đã bỏ rơi các bạn còn đang chiến đấu. Triệu đã ý thức được là cuộc tranh đấu có nhiều phương thức, nhiều mặt để hỗ tương cho nhau. Ngoài cái tin đau buồn về trên mười bạn học trường Petrus Ký đã bị Việt Minh xử tử ở Gò Công, Triệu đã biết được việc Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai đã thủ tiêu bao nhiêu những nhà ái quốc mà Triệu đã từng mến phục trước kia như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Dương Văn Giáo, bác sĩ Nguyễn Ngọc Sương, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh..v.v... Ðặc biệt nhất là việc người phải bỏ mạng trước ngày khởi đầu Nam Bộ Kháng Chiến, không phải do thực dân Pháp giết mà lại do các sát thủ trong toán “Công tác thành” của Dương Bạch Mai. Người đó là Nguyễn Văn Vững, thủ lãnh Thanh niên Tiền phong vùng Ða Kao, thơ ký Ủy ban Sài Gòn-Chợ Lớn của nhóm Tranh Ðấu. Ông Vững đã bị bắn khi đi làm về, vừa dựng xe trước nhà ở đường Albert 1er (Ðinh Tiên Hoàng). Ông phụ trách lớp đào tạo thanh niên do Phan Văn Hùm chủ xướng và là người đã dẫn dắt Triệu vào cõi tư tưởng cách mạng đấu tranh bằng những bài vui nhộn như “Cộng sản có phải là xúc lúa, bắt heo?”, các bài lý luận Duy Tâm, Duy Vật, Biện Chứng Pháp..., cách thức tổ chức, huy động quần chúng... Triệu vui mừng bắt liên lạc lại với vài đàn anh nhóm Tranh Ðấu còn sót lại, những người đã thoát qua được đợt sát hại của Cộng sản Ðệ tam. Ðặc biệt anh L.B.P., một giáo chức cao cấp nhưng có cuộc sống bình dị với đàn em, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc. L.B.P. đã bắt liên lạc được với các anh em công binh từ Pháp về và chuyển các tài liệu, sách báo phát hành ở Pháp, nung nấu lại nhiệt huyết của giới trẻ đối với tiền đồ cách mạng thế giới. Mỗi lần thân mẫu của L.B.P. từ Cần Giuộc đem cho anh P. đặc sản mắm tôm là đám trẻ lại có một phen hội họp vui nhộn như thời còn theo học lớp huấn luyện chánh trị của ông Phan Văn Hùm, Lê Văn Vững. Anh Ðỗ Cao Minh, bạn của Triệu khi còn theo học Sơ học ở Biên Hòa cũng như suốt bốn năm nội trú ở Petrus Ký, tình cờ một hôm gặp lại Triệu ở Thư viện Thành phố, đã cho Triệu biết anh đã bí mật liên lạc với một số anh em tâm huyết, thành lập Liên đoàn Sinh viên-Học sinh Sài Gòn Chợ Lớn. Minh thuộc một gia đình của ông Ðỗ Cao Lụa ở Bến Gỗ, Biên Hòa, một họ danh gia thế tộc. Ðỗ Cao Trí, em của Minh về sau sẽ là một danh tướng tài ba miền Nam. Vì đã biết Triệu từ nhiều năm trước nên Minh không ngần ngại rủ Triệu gia nhập tổ chức. Ðỗ Cao Minh đã giải thích việc cần có một tổ chức thanh niên để góp phần vào cuộc tranh đấu chung. Một số bạn trẻ đã hoang mang, đứng bên lề cuộc chiến khi chứng kiến việc những người Cộng sản trong tổ chức Việt Minh đã cố tình phá bỏ những tổ chức không do họ nắm giữ. Trần Văn Giàu đã nắm được thế thượng phong để giành chánh quyền bằng cách lợi dụng tổ chức Thanh Niên Tiền Phong nhưng sau đó, đã theo mạng lịnh của Hà Nội, thành lập Thanh Niên Cứu Quốc. Thanh Niên Tiền Phong đã bị nhóm Trần Văn Giàu khai tử, không kèn, không trống, từ lúc nào không ai được biết! Việc làm theo lối này, Triệu đã có cơ hội nhận thấy lúc Tướng Nguyễn Bình được Hồ Chí Minh chỉ định vào Nam Bộ. Vào thuở đó, Trần Văn Giàu lẫn Dương Bạch Mai đều bỏ Nam Bộ lên đường ra Bắc. Tổ chức quân sự ở miền Nam lâm vào tình trạng rã rời từng mảnh. Lực lượng kháng chiến được xây dựng lại trong một buổi hội ở Bà Quẹo ngày 2 tháng 4 năm 1946 để thành lập Ủy ban Liên hiệp Kháng chiến. Tiếp đó, ngày 20 tháng Tư, trong một buổi họp kéo dài 3 ngày trong đó Nguyễn Bình đã phái giáo sư Phạm Thiều đại diện đến tham dự. Mặt trận Quốc Gia Liên Hiệp đã được thành lập để huy động các thành phần đảng phái, tôn giáo, quần chúng vào cuộc tranh đấu chung. Ông Huỳnh Phú Sổ được cử làm Chủ tịch với bí danh Hoàng Anh, Vũ Tam Anh, phó Chủ tịch, Mai Thọ Trân, Cộng sản Ðệ Tam làm Tổng Thư ký, Huỳnh Văn Trí, Ủy viên Quân sự... Nhận thấy Mặt trận này không do đảng Cộng sản chủ động nên Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị cho Nguyễn Bình phải giải tán để thay thế bằng Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam (Liên Việt), thành lập ở Bắc, ngày 25-5-1946. Việc đột ngột thay đổi chủ trương này đã khiến Nguyễn Bình, chân ướt chân ráo mới vào miền Nam, đã phải một phen mất mặt với các đoàn thể không Cộng sản ở Nam Bộ! Anh Ðỗ Cao Minh đã gầy dựng Liên đoàn Học sinh, trong chiều hướng quy tụ những thanh niên không thích gia nhập Thanh niên Cứu Quốc của Việt Minh. Vì chỉ liên hệ với thành phần học sinh, nên phạm vi hoạt động của Liên đoàn tương đối quá giới hạn, mặc dầu anh Minh đã tìm được một số anh em hoạt động rất hăng say như Hồ Thái Bạch, Thới “đen” v.v... Nhu cầu cần có những tổ chức không “đỏ” như Việt Minh, đã là ưu tư của một số nhân sĩ. Do đó, một hôm Triệu được những bạn sinh viên mời tham gia một buổi hội dự định tổ chức một đoàn thể mới để đáp ứng với tình thế. Các anh này vốn đã từng gia nhập đảng Tân Dân Chủ, nhưng sau này đã bỏ hàng ngũ vì nhận thấy một số đông anh em lãnh đạo đảng đã bị Cộng sản Ðệ Tam thao túng. Buổi hội được tổ chức ở một biệt thự có sân rộng bao quanh, khá kín đáo ở vùng Lò Heo Cũ, Gia Ðịnh. Vì mỗi lần tụ họp là một lần khó khăn nên buổi hội, trước được dự định sẽ kết thúc trong một ngày, lại phải kéo dài hơn hai ngày mới hoàn tất. Ðó là buổi hội khai sanh tổ chức Nam Bộ Thanh Niên Phục Quốc, được gọi tắt là Nam Thanh Phục. Nam Thanh Phục gồm nhiều thành phần thanh niên ở nhiều giới, nhiều đoàn thể, tôn giáo... nên tầm hoạt động rộng hơn Liên Ðoàn Học Sinh. Sau khi bắt đầu hoạt động, vì danh từ “Phục Quốc” đã đưa đến ngộ nhận tổ chức mới này có thể có liên hệ đến tổ chức Phục Quốc Ðồng Minh Hội ở Bắc nên trong một buổi Ðại hội Khoáng đại, danh xưng được cắt gọn lại thành Nam Bộ Thanh Niên Ðoàn, tên tắt là Nam Thanh Ðoàn và cuối cùng được ngắn gọn gọi là Nam Thanh. Ðể có tài chánh hoạt động, các chị em trong Ðoàn đã tình nguyện đứng ra buôn bán gạo thóc, rau cải, vải sồ... ở các chợ. Tập san Nam Thanh, phổ biến tin tức kháng chiến và hoạt động các đoàn thể được phát hành, trước tiên phải viết tay, hay đánh máy trên giấy sáp để in theo lối thủ công học được do các anh được gởi vào khu, thực tập ở nhà in “Chống Xâm Lăng”. Báo “Chống Xâm Lăng” lại do Nguyễn Văn Ðính, một đồng chí của Tạ Thu Thâu phụ trách nhưng ông Ðính đã giữ tông tích rất kín! Một thời gian về sau, nhân bắt liên lạc và thâu nạp vào đoàn thể một số anh em công nhân giúp việc in ấn cho một tổ chức tôn giáo Cơ Ðốc của Mỹ ở Phú Nhuận nên tập san được in lén, sáng sủa hơn. Giấy sáp stencil, giấy in, mực in, máy in của cơ sở tôn giáo được lén lút sử dụng in báo Nam Thanh. Có thể người quản lý Mỹ cũng biết nhưng đã làm ngơ để giúp kháng chiến?. Triệu nhận lãnh phụ trách thực hiện tập san nên đã mất nhiều công sức cho việc này nhưng cũng nhờ vậy nên đã học được kinh nghiệm tập tành viết lách. Báo chí bí mật trong thời gian khởi đầu chỉ cốt để hô hào toàn dân tham gia kháng chiến, thông báo tin tức chiến sự, các chỉ thị của Ủy ban Nhân dân Nam Bộ nên hình thức in ấn chỉ ở mức độ tầm thường. Duy chỉ có một lần, tổ chức của Triệu đã có sáng kiến bán để gây quỷ nhân dịp Tết, một tài liệu tuyên truyền in rất mỹ thuật, viết bằng tiếng Pháp, nhằm phổ biến trong giới trí thức Việt, Pháp ở thành.
Trong tuyển tập thơ này, vì thích văn nghệ nên Triệu đã nhớ mãi hai bài, được viết theo thể thơ “sonnet” của Pháp. Một bài viết về bưng biền:

MAQUIS

Ceux qui, rageusement le voudraient nettoyer, Ne voient dans le maquis que mort et que traitrise, Le buisson peut celer de cruelles surprises, L’arbre, muet, narquois, semble les défier. Pour nous les maquisards, les arbres sont des frères, Chaque fourré touffue nous protège et nous aime, L’herbe est hospitalière et le ruisseau lui-même, Vient nous chanter le monde où s’inquiètent nos mères.
Quand vient le soir, que la rage ennemie désarme, Assis en rond, heureux, sous l’emprise d’un charme, Nous contons de nos morts les immortels exploits. La nuit est tout à nous. C’est alors que, sans bruit, Sans que vibre le sol, marchant sur l’ennemi, De l’espace et, du temps, les maquisards sont roisá!
Bài thơ này đã được thi sĩ Sóng Việt Ðàm Giang dịch nghĩa:

Bưng biền Những kẻ quyết tâm càn quét bưng biền, Chỉ thấy đó toàn chết chóc và phản bội, Bụi bờ kia che được tàn bạo bất ngờ, Cây cối lặng thinh ngạo nghễ, như thách đố.
Với ta dân bưng biền, cây cối là anh em, Mỗi bụi rậm cho che chở và mến thương, Ðồng cỏ và suối chảy tràn đầy thiện cảm, Hòa ca trong thế giới mà phụ mẫu lo âu. Chiều xuống, khi kẻ thù hung dữ buông vũ khí, Vui, ngồi thành vòng, ảnh hưởng bởi chút duyên, Ta kể nhau nghe chiến công bất tử của những kẻ nằm xuống.
Ðêm là của chúng ta, là lúc lặng như tờ, Là không làm đất rung, ta tiến tới kẻ thù, Là không gian, thời gian mà dân bưng biền làm hoàng đế!
(Sóng Việt phỏng dịch Ngày 2 tháng 9 năm 2008)
Bài thứ hai là một bài địch-vận, để nói khích quân nhân Pháp:
LA FIN D’UN BEAU VOYAGE
Un jour, quand vous retournez à vos foyers, Vous direz, les yeux lourds de vastes horizons, Vos aventures, vos exploits, vos randonnées, Et de votre combat, les plus hautes lecons.
Vous conterez comment une immense ferveur, Vous mena, victorieux, d’Afrique en Italie, De Bayeux à Berlin, avec quel doux bonheur, Vous redonniez la gloire à la France meurtrie Le cercle de famille, émerveillé, dira: “Mais c’est une Épopée que ce siècle inscrira! Dites nous, maintenant, la fin de votre histoire” Alors, baissant les yeux, lourds cette fois de honte: “Au pays du Viet Nam, contre un people qui monte, Contre la Liberté, nous luttâmes sans gloire
14 Juillet 1946
P.N.T.
Ðoạn kết của một cuộc hành trình đẹp

Một ngày khi anh trở về nhà xưa
Ðôi mắt nặng trĩu những chân trời bát ngát
Anh sẽ nói hứng khởi vô cùng kìa những cuộc phiêu lưu
Những thám hiểm, những du hành
Những chiến cuộc, những bài học đắt giá
Anh sẽ kể vì sao một cơn sốt lớn lao
Ðã mang lại chiến thắng từ Phi châu đến Ý Ðại Lợi
Từ Bayeux đến Berlin với biết bao hạnh phúc êm đềm
Anh mang trở lại vinh quang cho một nước Pháp bầm dập

Tuyệt quá nhỉ ngạc nhiên vòng gia đình quây quần sẽ thốt:
- Thì đó là một Chiến công hiển hách thế kỷ ghi danh!
Nào bây giờ hãy cho biết đoạn kết cậu chuyện đi
Lúc đó, hạ thấp đôi mắt, lần này nặng trĩu trong xấu hổ:
- Ở Việt Nam, chống lại lòng dân đang lên cao
Thêm phản Tự do, chúng tôi đã chiến đấu không vẻ vang

Một ngày anh trở về Mắt đầy chân trời rộng Hào hứng kể phiêu lưu Nào thám hiểm du hành Nào chiến cuộc đắt giá Kể cơn sốt chiến thắng Từ Phi đến Ý quốc Bayeux đến Berlin Vinh quang cho Pháp quốc Một Pháp quốc bầm dập Ngạc nhiên người nghe thốt: - Chiến công tuyệt thế kỷ Thế kết cuộc ra sao á? Ngượng ngùng anh cúi mặt: - Chiến đấu chống người Việt Pháp chống lại Tự do, Nào có vẻ vang chi.
(Sóng Việt phỏng dịch Ngày 2 tháng 9 năm 2008) 
Trần Ngươn Phiêu

GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 9) Lần đầu chạm địch

Triệu và các toán thanh niên đang mai phục canh gác phía trái của cầu sắt xe điện Cầu Bông được cấp báo phải cấp tốc rút lui vì quân đội Anh-Ấn và Pháp đã ồ ạt tấn công, vượt qua Cầu Bông sau khi đã thình lình nổ súng và cho thiết giáp vượt qua cầu. Các chướng ngại vật ở Cầu Bông về phía Gia Ðịnh đã bị súng lớn của địch phá hủy dễ dàng. Xe tăng, thiết giáp đã vượt cầu, tiến qua đường Hàng Bàng một cách bất ngờ, khiến các toán chỉ huy lúc ấy đang họp ở tòa Tỉnh Gia Ðịnh đã phải tháo chạy. Các toán có phận sự canh chừng phía bên này của Rạch Thị Nghè vì thế nhận được lịnh phải tự động rút lui để khỏi bị đánh bọc hậu. Triệu và các bạn đã tháo chạy trở về hướng Gia Ðịnh. Phần đông đều bị tay chân đầy máu me, không vì bị thương tích súng đạn nhưng vì phải càn vượt qua các bụi ô rô đầy gai góc bên bờ rạch. Triệu nghe các bạn bắn tin đồn là đã thấy ca sĩ trẻ Phạm Duy có tham dự mặt trận này và cũng tháo chạy như anh em. Lúc ấy Phạm Duy được giới trẻ biết đến vì đang đi theo một gánh hát cải lương và thường trình diễn rất “ăn khách” bản Buồn Tàn Thu của Văn Cao. Ðịch quân trong những ngày đầu chỉ cần lo chiếm đóng các vị trí chiến lược nên dân chúng Gia Ðịnh vẫn còn được cơ hội len lỏi theo các đường nhỏ trong các xóm để tìm đường tản cư khỏi thành phố. Các bạn của Triệu trong nhóm Sinh viên-Học sinh Tân Bình đã đồng ý cùng nhau dùng xe đạp, rút về Biên Hòa. Một anh bạn học ở Petrus Ký, tên Phan Văn Lung, người Biên Hòa có người chị làm chủ một trường tư ở ấp Phước Lư. Trường hiện đang bỏ trống vì thời cuộc nên có thể đưa tất cả toán đến trú ngụ nơi đó. Nơi đây là một nhà tư nhân nhưng phía sau nhà được cất thành lớp học khá rộng. Gần hai mươi thanh niên tạm thời tản cư đến đó để dò la phương kế hoạt động. Nhà bên ngoại của Triệu cũng ở trong vùng nên Triệu đã xin cho một số anh em đến tá túc. Cơ quan hành chánh Việt Minh miền Ðông Nam bộ, dưới quyền điều động của Dương Bạch Mai, Ủy viên Thanh tra Chánh trị Miền Ðông được đặt trong khuôn viên tòa Hành chánh tỉnh cùng với chánh quyền Tỉnh Biên Hòa. Những anh em được phân công đến tòa Tỉnh để giao thiệp xin nhận lãnh công tác đã vui mừng trở về cho biết họ đã gặp được giáo sư Trần Văn Quế hiện đang đảm nhận chức vụ Cố vấn cho chánh quyền Tỉnh và có một văn phòng riêng ở tòa Hành chánh. Triệu vội vã đến thăm vị giáo sư cố vấn của nhóm học sinh Pétrus Ký ngày trước và giáo sư Quế cũng có cho biết là trong những ngày bị mật thám Pháp bắt, giáo sư vẫn lo lắng không biết đám học trò nhỏ của giáo sư có ai bị liên can không. Giáo sư Quế cũng cho biết là sau khi ở Côn Ðảo về, ông chỉ trở về Tây Ninh với gia đình được vài hôm. Chánh quyền Việt Minh đã thuyết phục ông phải nhận chức cố vấn cho chánh quyền Việt Minh vừa mới thành lập ở Biên Hòa. Ông cũng có cho biết là thật ra anh Tỉnh ủy viên có việc gì cũng đem ra hỏi ý kiến của Dương Bạch Mai là người đại diện của Ðảng Cộng sản. Ông chỉ được góp ý giúp về hình thức thảo công văn mà thôi. Bộ đội Vệ Quốc của Việt Minh không đóng ở tỉnh lỵ mà chọn nơi trú quân ở Cù Lao Phố. Ông chỉ huy trưởng phân tán bộ đội cho trú ngụ ở nhà dân chúng quanh vùng. Một nữ y tá của nhà thương Chợ Rẫy di tản ra khỏi Sài Gòn bị thất lạc về đây và được ông chỉ huy trưởng đề cử làm trưởng Ban Cứu thương. Vì Triệu có được chứng chỉ cứu thương của Hồng Thập Tự nên cũng được mời gia nhập bộ phận Cứu thương, dưới quyền của cô nữ y tá. Triệu là dân tỉnh Biên Hòa, quen nước quen cái nên được phân công yểm trợ cho tòa Tỉnh. Khi có bịnh thì nhân viên đi khám bác sĩ nhưng săn sóc chích thuốc thì Triệu lãnh phần trị liệu “chích dạo” để họ khỏi phải di chuyển đến bịnh viện. Các “chức sắc mới” ở tòa Tỉnh lại thường xin được chích thuốc bổ loại Calcium hay Sinh tố C chích gân hoặc loại Cacodylate de soude, Strychnine chích thịt nên hằng ngày, Triệu thường có dịp đến tòa Tỉnh và đến hầu chuyện với giáo sư Quế. Tình hình ở tỉnh lỵ lúc nào cũng căng thẳng vì không biết lúc nào quân Pháp hoặc Anh-Ấn có thể từ Sài Gòn bung ra tấn công các tỉnh miền Ðông. Các cầu lớn, các ngả đường nay đều được tăng cường canh gác. Trong khi đó, Triệu nghe được nhiều tin về việc những nhân vật được biết tiếng trước kia như Huỳnh Văn Phương, Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo, Bùi Quang Chiêu, Trần Quang Vinh v.v...nay đã bị Việt Minh bắt hoặc thủ tiêu. Ðặc biệt có những tin cho biết các toán võ trang công nhân chiến binh của nhóm Ðệ Tứ tập họp về vùng suối Xuân Trường, Thủ Ðức sau khi quân Pháp đã phá vòng vây ở Sài Gòn, lại bị bộ đội của Dương Bạch Mai đến tước khí giới và bắt đi. Khi được Triệu hỏi về các việc trên, giáo sư Quế chỉ lắc đầu, thở dài mà không bàn luận gì. Các công chức tòa tỉnh nay lại được lịnh phải chuẩn bị tản cư với các viên chức Việt Minh khi có lịnh, không được trở về với gia đình. Tình cờ, trong khi đi chích thuốc, Triệu được nghe viên trưởng Công An hỏi Tỉnh ủy: “...Còn cố vấn thì làm sao?”. Anh nầy trả lời: “Thì cứ áp dụng chỉ thị của đồng chí Dương Bạch Mai đối với tụi trí thức!”. Triệu liền đến báo tin cho giáo sư Quế. Ông ngao ngán nói “Các anh em Ðệ Tam, lúc nào sao họ cũng vậy...!”. Ngày hôm sau, Triệu không còn thấy giáo sư ở văn phòng. Những người biết việc, cho hay là đồng đạo của giáo sư đã đưa ông về Tây Ninh , xuyên qua ngả Tân Khánh, Gò Dầu Hạ? Cơ quan hành chánh Việt Minh vào các ngày sau đó chỉ thấy còn hoạt động cầm chừng cho có mặt vì các nhân viên có chức quyền đã tản cư ra khỏi tỉnh. Trong tình thế đó, các anh em trong nhóm Sinh viên-Học sinh Tân Bình chọn giải pháp chia tay nhau: những người có thể trở về gia đình cứ tự động ra đi; các anh em khác đồng cùng nhau tìm đường về miệt Hậu Giang, gia nhập đoàn Tuyên truyền Lưu động Nam Bộ của Ðặng Ngọc Tốt. Người đề nghị giải pháp này và cho giấy giới thiệu là anh Phẩm, một sinh viên từ Hà Nội về, thuộc đảng Dân Chủ và là con của thầy giáo Giỏi dạy ở trường Tỉnh. Vì nhà ở gần Cầu Rạch Cát và hãng dầu Shell nên gia đình bên ngoại của Triệu cũng phải tản cư qua nhà một người Dì ở Cù lao Phố. Hằng ngày Triệu vẫn đến sinh hoạt cùng bộ đội Vệ Quốc, học tập quân sự với một sĩ quan quân đội Nhật tình nguyện ở lại Việt Nam. Người Nhật, tên Watanabé nầy được gởi tá túc ở nhà ông Kinh lý Nhơn vì trước kia, ông đã từng có cơ hội tiếp xúc giao thiệp với quân đội Nhật. Ngoài việc dạy tháo ráp, bảo trì súng ống, sử dụng lựu đạn, mọc chê, gài mìn bẫy... anh Watanabé thường hay đến gặp Triệu để dạy Triệu hát cho đúng tiếng Nhật các bản Ðêm Trung Hoa (Shina Noyoru), Tango Chinois (Hà Nhật Quân Tái Lai)... vì Triệu thường đàn mandoline và nghêu ngao cùng hát các bản này với anh. Anh lại có thêm biệt tài thổi sáo Nhật, loại sáo thân rất to, tiếng trầm buồn, không réo rắt cao vuốt như tiếng sáo Việt. Triệu đã được anh truyền dạy hát một bài thật hay nhưng âm điệu rất buồn thảm, một bài mà đến tuổi trên tám mươi, Triệu vẫn còn nhớ: bài Ánh trăng trên cổ thành (Hoang thành chi Nguyệt)! Một buổi chiều, vào lối bốn hay năm giờ, Triệu đang ngồi nghe Watanabé thổi sáo bỗng nghe có những tiếng nổ to ì ầm từ hướng Sài Gòn vọng về. Tiếng bom đạn sau đó càng lúc càng nổ lớn hơn, liên tiếp đến hơn cả mấy tiếng đồng hồ cho đến gần như suốt đêm. Có người ở dọc quốc lộ 1 gần Chợ Ðồn đem tin cho biết tiếng nổ không phải do có chạm súng gì mà là do kho đạn của Pháp ở Sài Gòn phát cháy. Tin tức sau về sau lại càng chi tiết hơn và cho biết đó là kho đạn của thành lính ở đường Docteur Angier tức đơn vị 11è R.I.C (Lữ Ðoàn Lục Quân Thuộc Ðịa thứ 11). Watanabé đã cùng Triệu đứng ở lan can trước nhà cùng nhìn về hướng Sài Gòn để xem ánh chớp sáng của bom đạn đang tiếp nổ. Triệu rất ngạc nhiên khi nhận thấy Watanabé miệng mỉm cười, thỉnh thoảng lại chầm chậm gật đầu nói lầm bầm bằng tiếng Pháp: “C’est le prix que les Francais doivent payer”.(Ðó là cái giá mà người Pháp phải trả). Tối hôm đó, Triệu thuật lại cho ông ngoại nghe các thắc mắc của Triệu về thái độ và câu nói của anh ta. Ngoại đã cho Triệu biết có thể Watanabé đã tham dự vào công tác bí mật đặt hệ thống nổ chậm ở kho đạn trước khi giao cho quân đội Pháp. Y đã mãn nguyện vì công tác bí mật đã thành công? Ngày hôm sau, báo Cảm Tử đăng tin là một thiếu niên cảm tử quân đã quấn mền, tẩm xăng, tự đốt cháy và chạy vào kho đạn để đốt nổ! Câu chuyện đặt điều vô lý tuyên truyền về việc “anh hùng Lê Văn Tám” có thể tự tẩm xăng đốt, chạy từ cổng thành có lính canh gác, đến một kho đạn cách xa đường hơn cả trăm thước, chuyện khó tin đó lại được đài vô tuyến Bạch Mai ở Hà Nội phát thanh rầm rộ, ngày này qua ngày khác! Bỗng một tối, Watanabé thình lình đến thăm để từ giã Triệu. Anh cho biết phải di chuyển đi xa, không biết còn có dịp gặp lại không! Ðến sáng hôm sau, Triệu và dân chúng trong làng phát giác là các toán Vệ quốc quân cũng đã rời khỏi làng trong đêm. Ông Chỉ huy trưởng cùng cô Y tá trưởng đã biến mất. Triệu và một số anh em trẻ được ông gởi lời nhắn phải bám trụ ở lại để chờ người đến tổ chức thành toán du kích. Ngay ngày sau đó, quân đội Anh-Ấn và Pháp đã có cuộc hành quân, bắt gom tất cả trai tráng trong làng Hiệp Hòa ra ngồi ở chợ. Triệu cũng bị bắt trong trận càn quét này và đã ngồi lo âu suốt cả buổi. May sao vào buổi chiều, một trưởng lão trong làng tuổi trên tám mươi, mà cũng là một danh y, râu tóc bạc phơ, đầu chích khăn đỏ, dáng người cao lớn trông rất tiên phong, đạo cốt, chống gậy vào chợ đi một vòng, xong nói bằng tiếng Pháp với các sĩ quan chỉ huy: “ Tôi thấy các người bị gom ở đây toàn là dân làng và tôi biết họ. Không có ai là kẻ lạ mặt trong đám nầy”. Hình ảnh oai nghi của ông đã khiến các sĩ quan hiện diện tin tưởng và dân trai tráng trong làng đã được tự do trở về nhà. Kể từ đó, công việc của Triệu là đi nhận báo bí mật Cảm Tử đem về phân phối cho vùng Cù lao Phố và các làng lân cận, chuyển đạt các chỉ thị cho dân chúng phải giết chó trong các làng để du kích và bộ đội có thể di chuyển trong đêm mà không bị phát giác... Việc khó khăn nhất trong thời đó là khi có tổ chức Tổng Tuyển cử Quốc Hội! Trước những ngày Tổng Tuyển cử, phải đi dán và phân phối truyền đơn để giải thích và kêu gọi dân chúng tham gia. Thật sự ra thì danh sách các ứng cử viên đã được từ “trên” ấn định đưa về nên toàn là những tên tuổi xa lạ đối với dân chúng trong vùng. Vì quân đội Anh-Ấn đã có đóng các đồn ở các đầu cầu Gành và cầu Rạch Cát nên đến hôm bầu cử, Triệu và các người trẻ phụ trách phải bưng các thùng phiếu đến từng nhà cho dân chúng bỏ thăm, làm gì dám tổ chức các địa điểm đầu phiếu vì địch quân ngày nào cũng hay bất thần đi ruồng bố. Mỗi bận di chuyển ra khỏi làng để lãnh báo, nhận truyền đơn, cờ đỏ sao vàng hay các chỉ thị là một hành trình đầy hiểm nguy vì phải thoát qua nút chặn và khám xét ở các cầu. Từ ngày địch đóng quân ở các bót đầu cầu, ghe thuyền đều bị cấm không được di chuyển trên sông. Các hôm đầu địch đóng quân, sau khi dùng xong các thực phẩm đóng hộp, họ đã vứt các hộp trống rỗng, nổi lều bều trên sông. Dân chúng thấy tiếc nên có nhiều người đâm ghe ra vớt nên đã bị quân địch từ trên cầu bắn, may mà không có người bị thương tích! Kể từ đó, trên sông ngày đêm đều vắng lặng, chỉ trừ khi có việc, các anh em trong toán du kích của Triệu phải liều lĩnh dùng xuồng nhỏ bí mật vượt sông vào những đêm thật tối trời. Vì tình hình chiến sự nên sự lưu thông bị gián đoạn, việc tiếp tế lương thực đã bắt đầu gặp khó khăn. Các chợ làng tuy mỗi ngày có nhóm họp nhưng thực phẩm không được dồi dào như những ngày trước. Biên Hòa vốn là xứ có tiếng “cá ăn đá, gà ăn muối”, nên thực phẩm tươi như cá tôm... vẫn phải được tiếp tế từ các chợ ở Sài Gòn hay từ Bà Rịa, Vũng Tàu. Giao thông bị trở ngại nên cả tháng, ở chợ chỉ thấy bán toàn là mắm ruốc, cá khô, rau cải... Một hôm, người Dì thứ Tư của Triệu bắt được tin là chồng của Dì cũng như các công chức và trí thức Biên Hòa hiện đang bị Dương Bạch Mai lùa ra khỏi thành phố trước khi địch tiến chiếm tỉnh lỵ nay được gần như giam lỏng ở trong rừng miệt Long Thành. Một số thanh niên có thân nhân bị giam đã được các gia đình tha thiết xin đem giùm thực phẩm, thuốc men... tiếp tế cho họ. Tiếng nói là thực phẩm nhưng thật sự chỉ toàn là muối tiêu, mè, đậu phọng, đậu hũ, thịt kho thật mặn để họ có thể dùng ăn với cơm. Quốc lộ 1 cũng như đường lộ Biên Hòa Vũng Tàu đã có nhiều đồn bót quân Pháp và Anh-Ấn kiểm soát nên Triệu và các bạn phải đạp xe theo các nẻo đường trong các xóm qua các vùng Gò Công, Trao Trảo. Ði các ngả nầy cũng không phải dễ dàng gì vì luôn luôn có các chốt gác của các toán dân quân địa phương. Cũng có cái may là đi qua các làng này, những anh em trong toán của Triệu đều có những bạn đã quen biết từ trước. Giấy phép đi đường thì đã được ủy ban hành chánh địa phương cấp với nhiệm vụ đi tìm mua thực phẩm cá mắm tiếp tế cho làng. Triệu đã có cơ hội gặp được người dượng và cũng là thầy cũ dạy lớp Nhất của trường Tỉnh để cung cấp thực phẩm tiếp tế và thông báo vắn tắt tin gia đình vì những người canh gác chỉ chấp nhận cho Triệu được thăm nuôi trong khoảng mười lăm phút mà thôi! Trong thời gian gặp gỡ chuyện trò, lúc nào cũng có một hay hai người cán bộ giả vờ ngồi chung bàn để góp chuyện nhưng đúng hơn là cốt để dò xét! Sau buổi thăm nuôi ngắn ngủi, do lời chỉ dẫn của những người đã từng có dịp đi trước, Triệu được giới thiệu đến những nhà có trữ cá khô, mắm để thu mua đem về tiếp tế bán lại trong làng. Xe đạp của Triệu được gắn một bàn tiếp hậu chở hàng đặc biệt rất chắc nên Triệu đã ham hố mua chở thật nặng khiến xe không được cân bằng. Nếu không ngồi vững trên xe thì phần trước chiếc xe đạp cứ nhảy chồm lên như một con ngựa chứng! Triệu đã phải vất vả đương đầu mới đưa được “con ngựa chứng” trở về được đến nhà. Nhưng cũng nhờ được các chuyến đi tiếp tế như vậy nên Triệu đã qua được một thời thiếu thốn, mình mẩy không còn bị ghẻ chốc như trước kia vì thiếu dinh dưỡng và mỗi ngày chỉ có ăn được toàn là mắm ruốc mà thôi. Về sau, Triệu còn mạo hiểm, chèo ghe nhỏ, len lỏi theo các rạch để đến các lò đường vùng Phước Tân, chở đường tán về tiếp tế. Các chuyến đi như vậy thật ra cũng là những chuyến công tác, một công hai việc, để nhận các chỉ thị của khu ủy cũng như mua thuốc men ở các nhà thuốc chợ Biên Hòa cho bịnh xá trong khu của bác sĩ Quá, bác sĩ nhà thương Gia Ðịnh đã tình nguyện đi giúp kháng chiến. Toán du kích địa phương lúc ấy chỉ nhận được chỉ thị phải dò la vị trí và hoạt động của các đồn bót địch quân, nhất là các di chuyển hằng ngày của các đơn vị cơ giới đi ngang qua hai cầu, từ Sài Gòn đi đến Biên Hòa. Ngoại trừ trường hợp bị bao vây, tấn công, du kích quân phải cố tránh không được quấy phá địch để tránh tung tích bị tiết lộ. Mục tiêu chánh phải là việc theo dõi các di chuyển, điều quân của quân đội Pháp và Anh-Ấn. Nhưng một hôm, cả toán được chỉ thị phải cùng di chuyển gấp đến tập hợp để được tham dự hành quân ở một vị trí rất xa làng, ở vùng Phước Tân. Toán được phân công phối hợp cùng các đơn vị khác, phục kích cuộc chuyển quân của địch trên một đoạn đường của quốc lộ 1, cốt để địch không thể di chuyển dễ dàng hằng ngày trên quốc lộ này. Toán trưởng của Triệu là một cựu công nhân đồn điền cao su, người miền Trung tên Ðơ. Anh là một người chất phác, tánh tình rất dễ thương. Anh thường kể chuyện cũ của anh, lúc trẻ vốn là người ở vùng Cửa Tùng. Anh thường ra bến xem các ghe bầu xuất phát đem bán các thổ sản địa phương cho các chợ ở miền Nam, nhất là vào những tháng trước lễ Tết. Một hôm, anh liều lĩnh trốn nhà, phiêu lưu theo ghe bầu vào Nam. Sau đó, anh đã lưu lạc nhiều nơi, đã có một thời gian dài đi làm phu cạo mủ ở các vườn cao su. Công việc thức khuya dậy sớm đi cạo mủ rất vất vả mà lương phạn lắm khi còn bị bọn cai thầu cắt xén nên anh đã phải tìm cơ hội trốn ra khỏi đồn điền trong khi chưa mãn hạn giao kèo đã ký trước. Anh đã xin nhận lãnh giúp việc săn sóc canh tác cho các chủ vườn bưởi ở làng nên Triệu đã biết anh từ trước. Anh đã từng được các cán bộ Cộng sản bí mật huấn luyện chánh trị khi làm phu cạo mủ cao su nên từ ngay lúc khởi đầu cuộc kháng chiến, anh đã được từ trên tỉnh, chỉ định làm toán trưởng thanh niên địa phương. Trong các buổi hội có cán bộ tỉnh tham dự, anh thường được giới thiệu đề cao là thành phần công nhân vô sản đã giác ngộ giai cấp. Triệu đã có dịp ngồi cạnh anh trong các buổi hội đó và đã được một lần nghe anh cười khì nói nhỏ: “Ở Cửa Tùng, cha mẹ tôi có vườn tược nhà cửa rộng lớn. Nếu ngày mai tôi trở về, tôi sẽ lại thuộc thành phần con địa chủ!”. Vũ khí của toán của Triệu phần lớn chỉ là loại súng mút (mousqueton) của Pháp, bắn từng phát một và lựu đạn nhiều loại của Pháp và Nhật. Súng tốt chỉ có một cây cát bin Mỹ của trưởng toán Ðơ và một cây tiểu liên Stein. Vào thời khởi đầu kháng chiến, kinh nghiệm chiến trường chưa có là bao. Toán của Triệu chọn một vị trí trên một dốc cao để dễ quan sát, nhìn xuống đường. Công sự chiến đấu được đào sau các lùm cây rậm rạp, tưởng chừng như rất an toàn. Ðến lúc lâm trận, ngay ở những phút đầu tiên, các đại liên trên thiết giáp địch đã quạt liên hồi vào các lùm cây, quét sạch các ngụy trang khiến các công sự chiến đấu trở thành lộ thiên! Du kích quân đã được lịnh phải rút nhanh sau khi tung hết lựu đạn. Anh Ðơ trưởng toán bị một vết thương nặng ở đùi bên trái, không di chuyển được. Triệu đã băng chặt vết thương cho anh nhưng anh vẫn ra lịnh: “Anh phải rút nhanh với các anh em, tôi ở lại bắn cầm chân địch cho anh em rút”. Sau khi địch quân đã tiếp tục di chuyển xa và phi cơ tuần thám không còn lai vãng trên không, anh em du kích đã trở lại tìm anh trưởng toán. Anh Ðơ đã lết xa ra khỏi công sự trên năm mươi thước và đã hi sinh nhưng ba lô và vũ khí đã biến mất. Ðến lúc khiêng xác anh lên, Triệu mới nhận ra được là anh đã cố gắng dùng lá cây khô để phủ dấu chôn ba lô và cây cát bin Mỹ! Ôi cái thuở ban đầu cuộc chiến, anh em đã trân quý vũ khí hơn vàng! Anh Ðơ là người chiến sĩ đầu tiên được Triệu săn sóc cầm máu vết thương trên chiến trường. Khả năng kỹ thuật y tá thô thiển của Triệu thời bấy giờ chỉ được đến mức ấy mà thôi. Về sau này, được huấn luyện thành y sĩ quân y thực thụ, Triệu mới ý thức được là lắm khi, một vết thương tưởng là nhỏ nhưng có thể đã lọt vào thân thể và phá tan tạng phủ. Anh Ðơ, người chiến sĩ đầu tiên được Triệu săn sóc có phải thuộc vào hạng thương tích chiến trận loại đó không? Ở vào thời điểm đó, Triệu làm gì có được khả năng chuyên nghiệp để định bệnh, làm gì có huyết tương để chống kích xúc, làm gì có khả năng di chuyển thương binh đến nơi giải phẫu vết thương? Về sau này, dẫu đã được cơ hội được học tập để trở thành y sĩ, Triệu vẫn cảm thấy hãnh diện, nhớ lại những ngày thô thiển khởi đầu y nghiệp, thời của bài hát Nam Bộ Kháng Chiến:
Mùa thu rồi, ngày Hăm Ba, Ta đi theo tiếng kêu: “Sơn hà nguy biến” Rền khắp trời, lời hoan hô, Dân quân Nam nhịp chân tiến đến trận tiền, Thuốc súng kém, chân đi không, Mà lòng người giàu lòng vì nước, Nóp với giáo, mang quang vai, Nhưng thân trai nào kém oai hùng...
Trần Ngươn Phiêu

GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 8) Những ngày đầu Nam bộ Kháng chiến

Lịnh phong tỏa Sài Gòn-Chợ Lớn được ban hành. Nhiều truyền đơn, biểu ngữ đã được tung ra dán ở khắp các ngõ đường, các xóm, các chợ... cấm tiếp tế thực phẩm cho thành phố, cấm buôn bán với ngoại kiều... Các ngõ đường đưa vào thành phố đều được bít lại bằng chướng ngại vật: cây đốn ngã, xe cộ, bàn ghế, tủ, bao cát... Thanh niên Tiền phong mang tầm vông vạt nhọn, dân chúng, thầy thợ đều tình nguyện ra gác các chốt ngăn chặn như ở Cầu Kiệu (Phú Nhuận), Cầu Bông, Cầu Thị Nghè (Gia Ðịnh)... là những nơi Triệu đã lấy xe đạp đi thăm. Triệu nghe đồn là các điểm ngăn chặn do quân nhân Cao Ðài đảm nhiệm trên đường từ Tây Ninh về Sài Gòn cũng như các đường từ Lục Tỉnh lên do lực lượng Bình Xuyên, là những nơi có trang bị vũ khí, có cả súng liên thanh. Các điểm ở Cầu Kiệu, Cầu Bông thì rất xô bồ, xô bộn, chỉ có dao mác, gậy gộc, vài cây súng săn hai lòng. Một vài người có dáng vóc chỉ huy thấy có đeo súng ngắn và lựu đạn được coi là có mang vũ khí thực sự!
Triệu đang phân vân không biết nên tìm cách nào để bắt liên lạc lại với các anh trong tổ chức Dân Quốc Quân, thì bỗng nhiên có Ðức, một bạn học ở Ða Kao tìm đến xin tá túc và cho hay tin ông Lê Văn Vững, thủ lãnh Thanh niên Tiền Phong vùng Ða Kao đã bị bắn chết vào chiều 22 tháng 9, trước đêm quân Pháp ở Sài Gòn chiếm các đồn bót và trụ sở Ủy ban Nhân dân Nam Bộ. Triệu đã từng gặp ông Vững nhiều lần ở trụ sở báo Tranh Ðấu của nhóm Ðệ Tứ. Ông cũng là người phụ trách các lớp huấn luyện chánh trị cho nhóm thanh niên do ông Phan Văn Hùm đề nghị khởi xướng. Triệu bàn với Ðức: bọn thực dân Pháp đã tìm cách tiêu diệt các thủ lãnh Thanh niên Tiền Phong trước khi họ đảo chánh Việt Minh. Ðức cãi lại liền: “Không phải Tây giết ông Vững đâu. Ðó là tụi Tự Vệ Cuộc của Dương Bạch Mai. Tôi ở ngay trong xóm nên biết chắc như vậy”.
Ðức là một người bạn đặc biệt của nhóm Triệu. Mẹ anh là một người đàn bà góa, có cơ sở làm ăn ở Gò Công. Ðể giúp Ðức tiếp tục học ở trường Petrus Ký, bà mua cho Ðức một căn nhà lá nhỏ trong xóm Ða Kao, ở giữa khoảng đường Albert 1er và Ðất Thánh Tây. Vào thuở đó, vùng nầy còn là vùng còn hoang vu, có ao, đầm ngập nước. Mỗi tháng khi đến thăm Ðức, bà đổ đầy một lu gạo, đem cho thêm mắm, muối, tôm khô, cá khô... và trả tiền trước cho một chị gánh nước trong xóm để mỗi ngày phải đổ đầy một lu nước đặt trước nhà. Cái chòi lá của anh vì thế được coi là một trụ sở biệt lập để bạn bè tự do đến chơi, ăn ngủ khi cần. Triệu đã nhiều lần đến đây, những đêm mưa lớn, thường rủ nhau ra các ao bắt nhái lột da, chỉ giữ lại hai đùi sau, gom về nấu cháo ăn khuya với nhau. Những khi có chút ít tiền dính túi, Ðức, Triệu và các bạn vào những lần thức khuya, bụng đói, có cái thú rủ nhau đi ăn “cháo Lam Vồ”. Ðó là tiếng lóng của dân chúng nhà nghèo vùng Đa Kao. Thuở đó, ngang rạp chiếu bóng Casino, bên kia đường có một cây lam vồ, gốc khá lớn. Dưới gốc cây có một cái quán của một bà khoảng trên năm mươi tuổi, chuyên môn bán nước trà Huế. Bà là người Biên Hòa, xứ núi có nhiều cây trà hoang loại này ở các gò cao nên bà luôn luôn có được nguồn cung cấp loại trà ít tốn kém này. Người đi đường, nhất là anh em công nhân lao động, các anh phu xe kéo...
thường ghé vào quán bà để thưởng thức một tô lớn trà nóng vừa được bà pha rót với nghệ thuật điêu luyện lâu năm trong nghề của bà. Nếu lại gọi thêm một trái chuối hay một miếng kẹo đậu phọng để hãm trà thì tuyệt! Giáo sư Phạm Thiều, mỗi chiều đi dạy về, đạp xe đạp từ trường Petrus Ký ở tận Nancy về mãi Gia Ðịnh, thường hay ghé quán trà bình dân này để nghỉ mệt và thưởng thức tô trà pha đầy bọt của bà chủ quán. Ðến khoảng 6 giờ chiều thì bà dẹp bếp về nhà nghỉ cho đến nửa đêm. Khi rạp Casino vãng suất hát chót đóng cửa, bà lại gánh ra quán một nồi cháo trắng nóng hổi. Thức ăn kèm với cháo chỉ là một dĩa nhỏ tôm khô có pha giấm! Món cháo vừa bình dân, vừa rẻ tiền của bà được nhiều người thưởng thức nên bà thường bán dứt nồi cháo rất sớm để về nhà nghỉ đêm. Dân lao động và đám học trò nghèo vùng Đa Kao là khách hàng quen thuộc của bà chủ quán “cháo Lam Vồ”.
Trong xóm đó, dân du thủ du thực cũng rất nhiều nên Nguyễn Văn Trấn, Lý Huê Vinh của Dương Bạch Mai đã tuyển các tay sai cho Tự Vệ Cuộc Việt Minh trong bọn họ. Ðức đã biết mặt dân nầy nên Triệu đã thấy ngán ngẩm trước việc thực dân chưa thấy trở lại mà Việt Minh đã bắt đầu thanh toán đối lập rồi! Vài hôm sau, một bạn khác ở khoảng giữa đường Albert 1er, tên T.N. cũng xác nhận tin ông Vững bị bọn trinh sát của Việt Minh thanh toán. Anh và những người trong xóm đã nghe thấy tiếng súng và đã đến nơi dò la tin tức. Nhiều bạn học khác của Triệu cũng tìm đường thoát ra khỏi thành phố Sài Gòn vì nay quân Pháp đã bắt đầu đi khám xét các khu phố, bắt bớ thanh niên, tìm kiếm vũ khí... Nhiều bạn ở tỉnh xa, chưa tìm được phương tiện trở về nhà. Triệu và các bạn ở Gia Ðịnh có cơ may tìm được nơi tạm trú là nhà anh Trương Minh Kế, nơi mà anh em học sinh trước kia thường đến họp để thực tập đồng ca hay trình diễn kịch nghệ do các sinh viên tản cư từ Hà Nội về, truyền dạy lại để ra mắt giới thiệu với dân chúng Sài Gòn ở nhà Hát Tây. Ðây là một nhà trong một mảnh vườn lớn, có căn sau rất rộng để sinh hoạt hằng ngày. Cha của Kế là một công chức làm việc ở Bưu Ðiện Sài Gòn. Ông thường vắng mặt luôn nên các bạn của Triệu đã được tự do, thoải mái hoạt động ở căn sau nhà nầy. Một sinh viên, em của giáo sư Phạm Thiều, đề nghị nên thành lập nhóm “Sinh viên, Học sinh Tân Bình” để việc sinh hoạt có nề nếp, trật tự hơn, khi giao thiệp với các tổ chức khác. Mặt trận Tân Bình, Phú Nhuận tương đối ít sôi động hơn các nơi khác nên thanh niên được phân phối lo canh gác đề phòng bị quân Pháp tấn công qua các ngã rạch cầu Bông, rạch Thị Nghè. Các mặt trận khác về phía Thị Nghè, Khánh Hội, Nhà Bè, Chợ Lớn, đường lên Tây Ninh... thì được các bộ phận võ trang phụ trách nên thường nghe tiếng súng nổ, nhất là về đêm. Các toán của Bảy Viễn đã xâm nhập đốt chợ Bến Thành, đốt nhà đèn Chợ Quán, tấn công vùng Chợ Cũ, bắn cả dọc theo đường Bonard (Lê Lợi)..., thiêu hủy nhiều bồn xăng ở miệt Nhà Bè. Từ xa nhìn về thành phố Sài Gòn, thường thấy khói lửa bay lên ở nhiều nơi.
Vùng Tân Ðịnh, xóm Pháp kiều Cité Hérauld đã bị nhóm Tô Ký xâm nhập và rất nhiều thường dân Pháp, cả phụ nữ, trẻ em đã bị tàn sát, khiến một số quân nhân Pháp đã điên tiết trả thù đối với những người Việt chưa kịp tản cư, còn kẹt lại trong thành phố! Nhóm Sinh viên - Học sinh Tân Bình được cơ quan phong tỏa thành phố Sài Gòn chỉ định phụ giúp canh gác bên này rạch Cầu Bông, đề phòng quân Pháp xâm nhập. Vùng nầy đất đai còn rất ẩm thấp, phần nhiều toàn là bùn lầy với rất nhiều bụi ô rô, lá có gai nhọn, nên gác ở các nơi nầy cũng là việc nhiều gian khổ. Các bộ phận có võ trang thì mai phục dài theo đường Hàng Bàng cho đến dinh Tỉnh trưởng, trong những công sự cao ráo hơn. Ngày 27 tháng 9, quân Pháp và Anh Ấn dự định phá vòng vây phong tỏa tiếp tế thành phố nhưng đã phải đụng độ dữ dội với các lực lượng bảo vệ vòng đai. Mặc dầu súng đạn kém và ô hợp nhưng với lòng quả cảm, dân chúng đã quyết tâm chặn quân địch. Ðặc biệt, Triệu được tin ở mặt trận Thị Nghè, Trần Văn Giàu chỉ tiếp tế cho các toán Việt Minh của Tô Ký, bỏ mặc các nhóm công nhân chiến đấu Ðệ Tứ nên nhóm nầy đã bị rất nhiều thiệt hại về nhân mạng. Chẳng những thế, Giàu còn định ra lịnh giải giới các công nhân nầy vì họ đã chiến đấu không theo lịnh của Giàu? Tướng Anh Gracey, trước tình trạng không phá được vòng vây của dân quân, đã chỉ thị cho tướng Nhật Térauchi phải tham gia tái lập trật tự. Vì thế nên ở mặt trận Hậu giang ở Chợ Lớn, dân quân đã bắt đầu phải đụng trận với quân Nhật! Nhận thấy sự kiện chống đỡ của dân quân, muốn phá được vòng vây, phải cần thêm nhân lực, thực dân Pháp đã đề nghị một cuộc ngưng bắn. Ba đại biểu của Việt Minh gồm Phạm Văn Bạch, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Quốc Việt đã đến họp với Tướng Gracey và Ðại tá Cédille, đại diện cho Tướng Pháp Leclerc. Ngày 2 tháng 10 đã được chọn làm ngày khởi đầu Ðình chiến. Thật ra trong thâm tâm nhiều người Việt, ai cũng nghi ngờ đây chỉ là một kế hoãn binh của Ðồng Minh, để chờ đưa vào thêm quân tiếp viện. Y như rằng, ngày 5 tháng 10, tướng Leclerc đến Sài Gòn, tuyên bố là sư đoàn 5 Thiết giáp của Pháp sẽ được chở đến nay mai và đồng thời Tướng Gracey cho biết 12.000 lính Gurkha của Anh cũng sẽ được đổ bộ. Cuộc đàm phán như vậy có thể đoán là sẽ không đưa đến đâu. Ðây chỉ là một thủ đoạn trì hoãn để chờ viện binh đang di chuyển đến tiếp cứu. Sự thất bại là lẽ tất nhiên! Trong khi đó, ngoài việc cấp bách là phải tìm cách phối trí lại lực lượng bao vây Sài Gòn, Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai lại toan tính lợi dụng thời cơ này để chỉ thị cho các toán bộ hạ đi lùng bắt, thủ tiêu những thành phần yêu nước khác nhưng không thuộc đảng phái Cộng sản Ðệ tam của họ. Họ lo ngại các thành phần nhân sĩ ái quốc đã từng có danh tiếng ở miền Nam có thể đứng ra lãnh đạo cuộc chống Pháp thay vì họ là những người từ bóng tối, mới xuất đầu lộ diện.
Các cuộc khủng bố trắng các phần tử có khả năng đối lập với đảng Cộng sản đã được thực thi, hầu như theo một kế hoạch đã được xếp đặt trước, khởi đầu bằng Huỳnh Văn Phương, Hồ Văn Ngà, Bùi Quang Chiêu, Dương văn Giáo, Trần Quang Vinh, Bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là Bác sĩ Nguyễn Ngọc Sương, Giáo sư Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Số v.v... Nhà viết báo được nhiều người biết tên trong thời kỳ “Ðông Dương Ðại Hội” là Diệp Văn Kỳ đã dò biết trước ý định của Trần Văn Giàu nên đã mặc áo tu, lên lánh mặt ở Tha La Xóm Ðạo (Trảng Bàng) nhưng cũng đã bị các trinh sát của Việt Minh bắt và sát hại. Cuộc đình chiến đã chánh thức bắt đầu từ ngày 2 tháng 10 thì đến ngày 5 tháng 10, tướng Leclerc của Pháp đến Sài Gòn, đóng tư dinh tại Phủ Toàn quyền Ðông Dương ngày trước, tuyên bố hạm đội Pháp sẽ tới trong nay mai với quân đội, thiết giáp và sẽ ổn định tình hình trong một tháng! Trong khi đó, 12 ngàn quân đội Anh-Ấn cũng đã ồ ạt được chuyên chở đến. Khuya ngày 12 tháng 10, các toán quân Anh-Ấn, Pháp đã ồ ạt tấn công qua các vùng Gia Ðịnh, Gò Vấp, và phía Bắc Sài Gòn cũng như đã phá vòng vây về miệt Chợ Lớn.
Cuộc đàm phán trước kia đã thật sự hoàn toàn thất bại và chỉ thật sự là một âm mưu hoãn binh. Cuộc tấn công đã làm tan vỡ mặt trận Thị Nghè, Gia Ðịnh. Ðoàn Công binh Chiến đấu của nhóm Ðệ Tứ đã bị thiệt hại nặng trong trận phá vòng vây này của địch quân. Số còn lại đã lui về tập họp lại ở sở Xe điện Gò Vấp là căn cứ xuất phát. Việc tập hợp tái tổ chức đang được chuẩn bị thì lại bị quân Pháp đến bao vây tấn công. Mặc dầu vũ khí yếu kém và thô sơ, dưới sự chỉ huy của Trần Ðình Minh, tức nhà thơ Hải Âu, các công binh chiến đấu đã anh dũng chống trả dưới ngọn cờ đỏ vô sản, trong tiếng súng xen lẫn với bản Quốc tế ca và bài Quân hành Công Nông Binh! Cuối cùng họ đã phải rút về miệt Bàu Tràm, Mỹ Hạnh và cuối cùng về Lộc Giang, gia nhập các toán Ðệ tam Sư đoàn của Nguyễn Hòa Hiệp để cùng rút sâu vào Ðồng Tháp Mười. Thi sĩ Hải Âu tức Trần Ðình Minh, từ Bắc vào Nam, đã anh dũng tử trận ngày 13 tháng Giêng năm 1946 khi chạm súng với quân Pháp ở Mỹ Lợi (Cao Lãnh). Dân chúng trong vùng đã chôn cất anh nơi đây. Ðó là trận chạm súng cuối cùng của đoàn công binh kháng chiến sở đề-pô xe điện Gò Vấp!
Trần Ngươn Phiêu

GIÓ MÙA ÐÔNG BẮC (Chương 7) - Cách Mạng Mùa Thu (1)

Phong trào Thanh Niên Tiền Phong đã phát triển rất nhanh chóng ở hầu như khắp các tỉnh. Ở Sài Gòn, Chợ Lớn các công sở cũng như các hãng tư lớn nhỏ đều có bộ phận TNTP và các thủ lãnh để trông coi, nhất là ở các xí nghiệp. Ở các tỉnh và quận, làng, TNTP cũng được tổ chức nhưng các thủ lãnh thường được gọi là Trưởng Thanh niên, Tráng trưởng, Thiếu trưởng... TNTP được thành hình với đồng phục, cách chào kính na ná giống như tổ chức Hướng đạo nhưng TNTP không có các hoạt động như thể thao, cắm trại, du ngoạn... Ðây là một đoàn thể được thành lập để đáp ứng lòng hăng hái của tuổi trẻ muốn tham gia vào sinh hoạt quốc gia đang chuyển mình qua giai đoạn độc lập. Việc thu hút giới thanh niên đã diễn ra rất phấn khởi, không có vấn đề đảng phái, tôn giáo, thành phần giai cấp... Lời Hiệu triệu đã được thanh niên miền Nam hưởng ứng nồng nhiệt với ba câu :
“Các bạn chỉ có một đẳng cấp: Ðẳng cấp của Thanh niên.
Các bạn chỉ có một nhiệm vụ: Nhiệm vụ của Thanh niên.
Các bạn chỉ có một mục đích: Giải phóng Dân tộc”
Những lời kêu gọi kích thích như vậy trước kia đã chưa từng được công khai phổ biến vì Việt Nam đang còn bị Pháp chiếm ngự. Khẩu hiệu: “Cải tổ xã hội, nâng cao đời sống đồng bào” nay là câu được nhắc thường trực trong các buổi hội. Công việc cấp thời lúc bấy giờ là giúp thu dọn, xây cất lại các khu bị dội bom, nhất là các xóm nhà lá. Dân chúng thành phố Sài Gòn đã hoan hô nhiệt liệt việc đào xới các nơi bị sụp đổ, cấp cứu các nạn nhân bị vùi lấp, an táng các tử thi... Ở Bắc lại khởi đầu có nạn đói hoành hành. Việc chuyên chở gạo tiếp tế cho Trung, Bắc đã bị ngưng trệ vì đường xe lửa Sài Gòn-Hà Nội bị máy bay Ðồng minh oanh tạc hằng ngày. TNTP đã tình nguyện chất gạo lên xe lửa di chuyển ban đêm. Ban ngày lại phải chất giấu cho đến tối. Việc chuyên chở gạo ra Bắc bằng ghe theo đường biển tuy chậm chạp nhưng cũng đã được thực hiện trong muôn vàn khó khăn. Ngày 15 tháng 4, 1945 một Ðại hội Thanh niên đã được tổ chức ở sân Vận động Chợ Lớn. Lần đầu tiên dân chúng đã thấy được các thanh thiếu niên diễn hành, hàng ngũ ngay ngắn, đi đứng nhịp nhàng. Các đội thiếu nhi 7, 8 tuổi đã được nhiệt liệt hoan hô. Các cuộc tập họp thanh niên càng ngày càng lôi cuốn giới trẻ tham gia hoạt động cộng đồng.
Ngày 11 tháng 6 một Lễ Hưng quốc Khánh niệm đã được cử hành với một bàn thờ Tổ Quốc thiết lập trang nghiêm ngoài trời. Ba thiếu nữ trang sức theo lối ăn mặc ba miền Bắc, Trung, Nam được kết chung bằng một giải lụa trắng tượng trưng đất nước thống nhất, ôm hoa đứng trước bàn thờ là một hình ảnh gây nhiều xúc cảm trong những người tham dự lễ.
Trong tình huống cần nung đúc ý chí thanh niên, một cuộc tuyên thệ của TNTP đã được chuẩn bị ra mắt ngày 1 tháng 7 ở sân vận động Vườn Ông Thượng. Ðây là một cuộc biểu dương lực lượng chưa từng thấy ở miền Nam của giới trẻ quyết tâm chứng tỏ ý chí cương quyết sẵn sàng phụng sự Tổ Quốc. Hơn ba ngàn dân chúng và các nhân vật tai mắt thời bấy giờ như Thống đốc Minoda, Tổng Ủy viên Thanh niên Iida, thân hào nhân sĩ Việt, Nhật đã đến chứng kiến lễ tuyên thệ. Lễ chào Quốc kỳ mới, có hình quẻ Ly và bài Thanh niên Hành khúc đã làm xúc động nhiều dân chúng. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã đọc một diễn văn khêu gợi ý chí thanh niên. Lễ tuyên thệ với sự hiện diện của các Huynh trưởng Nguyễn Văn Thủ, Kha Vạng Cân, Huỳnh Văn Tiểng, Kiều Công Cung đã được tiến hành rất cảm động với các lời hô to: “Chúng tôi thề” của TNTP, sau khi các Thủ lãnh dõng dạc đọc xong từng lời thệ nguyện. Cuộc diễn hành kết thúc buổi lễ đã ghi sâu vào tâm não những người đã có được dịp chứng kiến sự hàng ngũ hóa thanh niên vừa thoát vòng nô lệ thực dân. Một lễ tuyên thệ tiếp sau đó cũng đã được long trọng tổ chức vào ngày 19 tháng 8 do bà Bác sĩ Nguyễn Ngọc Sương, Thủ lãnh Phụ Nữ Tiền Phong. Hằng ngàn phụ nữ với đồng phục nón rơm, áo sơ mi trắng ngắn tay, quần dài đen, đã dõng dạc đưa tay hô: “Chúng tôi thề” sau khi bà bác sĩ Sương tuyên đọc các lời nguyền. Buổi lễ đã được long trọng diễn tiến trong cơn mưa. Thật không ai có thể ngờ đó là buổi tập hợp cuối cùng của Phụ Nữ Tiền Phong tại sân vận động Vườn Ông Thượng. Bà Nguyễn Ngọc Sương, y khoa bác sĩ tốt nghiệp từ Pháp, và chồng là luật sư Hồ Vĩnh Ký, khoảng một tháng sau ngày mở màn Nam bộ Kháng chiến, đã bị bộ hạ của Trần Văn Giàu xử bắn ở Bến Súc cùng nhiều đồng chí khác, ngày 23 tháng 10-1945, khi quân đội Anh-Ấn tiến chiếm Thủ Dầu Một. Những người bị Trần Văn Giàu bắt ở Thủ Ðức trong đó có Trần Văn Thạch (người đã hỏi Trần Văn Giàu trong buổi họp có báo chí tham dự ngày 30 tháng 8-1945, năm ngày sau khi Lâm ủy Hành chánh ra mắt: “Ai đã cử anh làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp?”), tất cả đã bị bọn cai ngục được lịnh phải thủ tiêu. Bà bác sĩ Nguyễn Ngọc Sương đã bảo người cầm súng: “Hãy nhắm đúng tim tôi mà bắn”. Những cuộc tuyên thệ trọng thể cũng đã được tổ chức ở Cần Thơ, Mỹ Tho và nhiều tỉnh khác. Phan Anh, Bộ trưởng Thanh niên của Nội các Trần Trọng Kim đã trình vua Bảo Ðại biết về lực lượng thanh niên ở Nam Kỳ. Ngày 3 tháng 7-1945, hơn 30 thanh niên trường Huấn luyện TNTP đã được đưa đến trình diện vua Bảo Ðại. Phạm Ngọc Thạch đã được Bảo Ðại chuẩn cho chức Xứ trưởng Thanh niên, đại diện cho Phan Anh ở Nam Kỳ.
Một số TNTP ở Sài Gòn cũng như các tỉnh bắt đầu tự trang bị thêm dao găm dắt bên hông. Số TNTP càng ngày càng tăng, dao găm trở nên rất khó kiếm. Chú Sáu của Triệu tình nguyện về tỉnh nhờ các lò rèn địa phương sản xuất giúp. Thế là Triệu lại có dịp trở về Sa Ðéc và được đi thăm nhiều làng xa trong tỉnh. Một hôm Triệu đến viếng cụ Cử Võ Hoành. Cụ cho hay phải ở lại tham dự buổi lễ ra mắt của hội Truyền Bá Quốc Ngữ địa phương. Ðồng thời cụ cũng bảo phải đi nghe ông Huỳnh Phú Sổ thuyết giảng và khuyến nông vì ở Bắc và Trung hiện có nạn đói trầm trọng. Ðây là dịp đầu tiên Triệu có cơ hội gặp vị Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo.
Khi Triệu đến chợ Sa Ðéc thì đã thấy rất đông dân chúng vây quanh ông Huỳnh Phú Sổ, một người dáng trông thanh lịch, rất trẻ, tóc để dài ngang vai, có cặp mắt rất sáng. Ông nói năng giọng sang sảng nhưng chậm rãi, cử chỉ từ tốn. Ðồng bào càng lúc càng đến đông nhưng rất im lặng, trật tự. Vài người nói nhỏ với nhau:
“ Thiên hạ nay đến nghe Ðức Thầy rất đông. Lúc trước còn Tây ở đây, lính kín đến nghe Thầy còn đông hơn dân chúng”.
Bài Khuyến Nông của Ông đã thật tình giúp người nông dân mộc mạc, khiêm tốn, nay hãnh diện ý thức được vai trò của mình và lo lắng cho đồng bào ruột thịt tận miền Trung, Bắc:
“Hỡi đồng bào! Hỡi đồng bào!
Thần chết đã tràn vào Trung Bắc...
.....................................
Kẻ phu tá cũng là trọng trách,
Cứu giống nòi quét sạch non sông
Một mai vác cuốc ra đồng
Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai
.....................................
Nam Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà còn cung cấp cho miền Bắc Trung
.....................................
Miễn sao cho cánh đồng Nam
Dồi dào lúa chín gặt đem về nhà
Chừng ấy mới hát ca vui vẻ
Ai còn khinh là kẻ dân ngu”

Buổi thuyết giảng mở đầu bằng “Khuyến Nông” sau đó đã được ông Huỳnh Phú Sổ chuyển qua dạy về Tứ Ân của Phật giáo Hòa Hảo: Ân Tổ tiên Cha mẹ, Ân Ðất nước, Ân Tam Bảo, Ân Ðồng bào Nhân loại. Ông nhắc cho tín đồ cách tu giản dị: chỉ cần một bàn Thông Thiên ngoài trời, bàn thờ Phật và bàn thờ Ông Bà trong nhà nhưng không tượng Phật, chỉ cúng nước lã, bông hoa và đèn hương. Có nhang thì đốt, không có thì nguyện không. Phật giáo Hòa Hảo không chủ trương cất chùa, đúc tượng Phật, không dùng chuông mõ. “Nên dùng tiền cứu người nghèo khổ, thay vì cất chùa to, đúc tượng lớn”.
Ông Huỳnh Phú Sổ đã phổ biến giáo lý Phật giáo với những lời thơ bình dân, dễ hiểu, dễ nhớ. Suốt buổi giảng Ông không dùng ngôn ngữ cầu kỳ, những ý nghĩ trừu tượng. Sấm giảng, thi văn của Ông phù hợp với trình độ đại chúng nông thôn và đáp ứng được tâm lý quần chúng vốn không thể lãnh hội được thiên kinh, vạn quyển của giáo lý Phật giáo. Buổi đầu tiên được nghe Huỳợnh Giáo chủ thuyết giảng, ấn tượng một người trẻ nhưng phi thường đã ám ảnh Triệu suốt nhiều năm tháng và Triệu đã có ý định cần phải tìm hiểu về chủ trương Phật giáo Dân tộc này. Sau khi phong trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa thất bại, thành phần nông dân là bộ phận bị chánh quyền thực dân đàn áp hung bạo nhất. Ý chí tập hợp đấu tranh người dân quê tưởng chừng như đã bị tan rã. Thế mà dân chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu lại đã đáp ứng nồng nhiệt và gia nhập Phật giáo Hòa Hảo của ông Huỳnh Phú Sổ. Việc ấy chắc hẳn phải có lý do cần được tìm hiểu sâu rộng hơn. Vào buổi chiều hôm đó, Triệu còn được chứng kiến đêm văn nghệ ra mắt của hội Truyền Bá Quốc Ngữ. Những bài tân nhạc Việt đã được trình diễn lần đầu tiên cho dân chúng tỉnh nhỏ. Họ chưa từng có dịp nghe các khúc nhạc của Lưu Hữu Phước, Ðặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước... Việc nô nức của giới trẻ quyết tâm tham gia vào việc tình nguyện phổ biến chữ quốc ngữ cho dân chúng khiến Triệu nhớ lại những buổi đầu đi dạy ở xóm nhà lá Khánh Hội. Nhớ gương mặt sáng rỡ trong ánh đèn dầu của anh chị em lao động, những người buôn gánh bán bưng khi học bài đầu tiên: “I, Tờ giống móc cả hai, I ngắn có chấm, Tờ dài có ngang” và được nghe họ vui mừng thốt lên: “Trời ơi! chữ mình dễ ợt như vậy hà? Hồi trước tới giờ có ai dạy đâu mà học!”. Triệu đã thật sự cảm động đến rớt nước mắắt, thấy mình đã làm được chút việc giúp ích cho dân chúng! Trong những chuyến đi cùng chú Sáu, thăm các lò rèn địa phương và phổ biến tin Pháp đã bị lật đổ cho dân chúng thôn quê, Triệu đã có dịp đi về các nơi hẻo lánh ven Ðồng Tháp Mười. Nơi đây Triệu đã được thấy tình người nông dân đối với những cặp trâu cùng chung lo việc đồng áng với họ. Những chiếc mùng thật to đã được may bằng vải ta để trâu không bị muỗi cắn về đêm. Mỗi nhà thường có treo một cái trống to để liên lạc với những nhà khác, thường ở cách nhau rất xa. Việc này thật giống như Triệu đã được xem trong phim nói về các bộ lạc ở Phi châu, dùng tiếng trống để báo tin với nhau. Người dân quê tuy sống một đời đạm bạc nhưng đồng ruộng miền Nam đã giúp họ có một cuộc sống không đến nỗi thiếu thốn như các vùng khác của đất nước, như Triệu sẽ được nhận thức về sau này. Cá tôm không thiếu trong sông rạch, chỉ cần đào ụ và chận ụ để bắt cá khi cần. Các chim chóc như ốc cao, chằng nghịt, võ vẽ, gà nước... người dân tuy không có ná, cung, súng ống nhưng chỉ cần tổ chức đông người, gây tiếng động lớn để “đuổi chim”, lùa vào lưới và rọ như bắt cá dưới sông. Có nơi lại thường dùng một cách bắt chim đặc biệt khác là đốt đuốc nom chim về đêm. Thi sĩ Mặc Khải ở Thiềng Ðức, Vĩnh Long đã có bài “Chim mùa lúa chín”:
Ra đồng đốt đuốc nom chim,
Rạ khô sột soạt, sao chìm bưng, ao,
Võ vẽ, chằng nghịt, ốc cao,
Lúa thơm, chim mập, thịt xào bầu non.

Chuột đồng béo bở, ướp xả ớt, chiên hoặc nướng lửa than, là một món ăn thích thú khác của thôn quê miền Nam. Triệu có nhiều chú, bác được ông Nội của Triệu khi về thăm quê ở Hà Tĩnh đã rủ đưa vào sống ở Cao Lãnh. Lúc chưa vào Nam, các chú, bác của Triệu đã phê bình các món ăn như rắn, chuột đồng và bảo: “Ở trong đó ăn những gì mà gớm ghiếc thế”. Nhưng sau khi được vào sinh sống trong Nam rồi, các chú lại là những người mê các món ăn đó nhất!

Ði vào các kinh, rạch vào trưa nắng hay các buổi chiều, trong cảnh vắng lặng, Triệu đã có dịp được thấy những sinh động của từng đoàn cá di chuyển giữa dòng nước trong vắt của kinh lạch, những con rắn nước chờ mồi, rùa, cua đinh thong thả bơi như vô tư lự... Hai bên bờ kinh những con chim nhỏ tỉ mỉ tước lá làm ổ kêu nhau chíu chít, những đàn cò im lặng đứng rình cá... Những người sống ở phố phường nhộn nhịp, những người từng hay đọc sách các văn sĩ miền Bắc mô tả những núi đồi, nông trại, thường chê miền Nam phong cảnh không có gì hấp dẫn, toàn một vùng thẳng tắp, nhiều lắm chỉ có chút tô điểm với những đàn cò trắng bay lượn xa xa... Những người đó chưa có dịp lắng nghe được trong không gian tưởng chừng như vắng lặng lại có tiếng động của lòng đất và khúc ca của cảnh vật đồng nội miền Nam. Phải có được dịp sống trên đồng ruộng miền Nam mới hiểu được vì sao người nông dân Nam bộ lại gắn bó với ruộng đồng sông Cửu như thế.
Một đêm ở vùng kinh xáng Bờ Bao, Triệu đã thức suốt đêm vì hôm đó trên một cành gòn, một con chim vịt lạc đàn đã thỉnh thoảng cất tiếng kêu não nuột suốt đêm. Có sống được trong tình huống đó mới thấm thía được câu hát ru em của miền Nam:
“Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ bạn, chín chiều ruột đau”

Nhưng rồi sau đó, Triệu lại cùng người chú trở lên Sài Gòn. Ngày 6 tháng Tám 1945 Mỹ đã thả bom nguyên tử xuống Hiroshima. Ngày 9 tháng 8, một trái bom nguyên tử khác lại được thả xuống Nagasaki. Ngày 10-8-1945, Nhật hoàng Hirohito nhờ Thụy Ðiển đứng ra làm trung gian xin ngưng bắn và sau đó, ngày 15-8-1945 tuyên bố đầu hàng Ðồng Minh, vô điều kiện.
Ðến lúc đó, ngày 14-8 Nhật mới tuyên bố trả Nam bộ cho triều đình Huế và Bảo Ðại đã bổ nhiệm Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam kỳ. Chánh phủ Trần Trọng Kim được thành lập ngày 17-4-1945 trong bối cảnh Ðồng Minh đang chiến thắng ở Âu Châu, đã phải đệ đơn từ chức ngày 5-8-1945, không đầy sáu tháng sau ngày ra mắt! Vua Bảo Ðại đã chấp thuận cho Nội Các từ chức nhưng đã ủy nhiệm cho Trần Trọng Kim lập Nội các mới. Trong thời gian ngắn ngủi cầm quyền, chánh phủ Trần Trọng Kim đã phải đương đầu lo giải quyết nạn đói đang hoành hành trên đất Bắc trong khi phải đặt cơ sở cho một nền hành chánh mới. Một thành công đáng ghi nhớ là Ban Cải cách Giáo dục, dưới sự hướng dẫn của Hoàng Xuân Hãn đã cho ra đời chương trình “Ban Trung đẳng 7 năm” được áp dụng sau này ở miền Nam. Tin Nhật đầu hàng vô điều kiện Ðồng Minh ngày 15-8-1945 đã là khởi điểm cho những biến cố dồn dập ở Nam Bộ. Các tổ chức chính trị miền Nam đã thỏa thuận thành lập “Mặt trận Quốc gia Thống nhất”, theo đề nghị của Hồ Văn Ngà. Mặt trận gồm có: Việt Nam Quốc gia Ðộc lập Ðảng, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Ðài, Tịnh độ Cư sĩ, Liên đoàn Công chức, Thanh niên Tiền Phong, Nhóm Trí thức.Trụ sở đặt ở đường Léon Combes. Trong khi đó, ở Pháp, ngày 16-8-1945, sau khi được thông báo về sự đột ngột đầu hàng của Nhật, tướng De Gaulle đã chỉ định Ðô đốc Thierry d’Argenlieu, một linh mục, làm Toàn quyền Ðông Dương và tướng Leclerc làm Tổng Tư lịnh Lục quân Ðông Dương. Ngày 21 tháng 8, 1945, để chứng tỏ cho thế giới biết quyết tâm của dân chúng Việt Nam không chấp nhận các mưu toan của Pháp định trở lại Ðông Dương, Mặt trận Quốc gia Thống nhất đã tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ có hơn 200 ngàn người, diễn hành trên khắp đường phố Sài Gòn. Triệu vào lúc này đang cư ngụ ở Bà Chiểu, gần xóm Nhà Thờ, nên thường sinh hoạt với Nguyễn Thanh Liêm, một bạn học cùng lớp ở Petrus Ký nhưng là học sinh ngoại trú. Liêm người cao lớn, chạy bộ rất giỏi nhưng lại mê thích đua xe đạp. Anh có một chiếc xe course để thi đua mà anh quý còn hơn bạn gái. Mượn gì anh cũng có thể cho nhưng đừng hòng mượn xe của anh. Liêm rủ Triệu tham dự các buổi nói chuyện tối của nhóm Việt Nam Quốc Dân Ðảng của Nguyễn Hòa Hiệp, ở một căn phố đường Hàng Dừa. Triệu không thích mấy, khi nghe những trình bày về các thuyết Tam Dân Chủ Nghĩa, các quá trình tranh đấu của Ðảng... vì cũng đã có đọc và biết thuyết này trong quá khứ. Liêm và Triệu đến tham dự vì chỉ muốn có cơ hội được huấn luyện quân sự. Vào thời buổi đó, súng ống là vấn đề cấm kỵ. Chỉ có những người có quốc tịch Pháp hoặc có địa vị đặc biệt mới được sắm súng, mặc dầu chỉ là súng săn. Nay nước nhà kể như đã thâu hồi được độc lập, lại có cơ hội được huấn luyện tháo gỡ, lau chùi, sử dụng súng dài, súng ngắn, hỏi sao không mê thích được, nhất là đối với thanh niên. Thường thì các lớp huấn luyện này chỉ học nhiều về lý thuyết. Thực hành chỉ có lau chùi, tháo ráp vì có súng nhưng không có đạn! Triệu chỉ được biết là súng được tịch thu khi các anh lớn được giao cho điều hành bót Hàng Keo, Gia Ðịnh. Súng thì có nhưng Pháp đã dấu đi các đạn dược nên chỉ lấy được rất ít, các anh cất giấu để sử dụng khi cần. Lựu đạn cũng có nhưng lẽ tất nhiên đã được tháo kíp nổ và thuốc súng cũng đã được trút hết ra khi đưa cho cầm thử để biết nặng nhẹ ra sao. Sau thời kỳ huấn luyện, Triệu và Liêm được coi như đã gia nhập Dân Quốc Quân của Nguyễn Hòa Hiệp, người chỉ huy đã được huấn luyện ở trường quân sự Hoàng Phố bên Tàu. Triệu tham dự cuộc biểu tình trong đoàn Dân Quốc Quân và rất hãnh diện được cấp cho một ca lô màu xanh dương đậm, có gắn một ngôi sao đồng bóng chói. Ðồng phục là áo sơ mi trắng ngắn tay, quần sọt xanh, trang bị tầm vong vạt nhọn như Thanh Niên Tiền Phong. Trong buổi đi biểu tình hôm đó, chỉ có các toán quân Heiho của Cao Ðài là các đơn vị diễn hành đẹp, có kỷ luật vì đã có dịp được huấn luyện thành thục từ trước. Kế theo đó là các toán Thanh Niên Tiền Phong và Phụ Nữ Tiền Phong. Các đơn vị TNTP tham dự diễn hành được tổ chức theo các xóm, các vùng ngoại ô hay có khi tùy theo các công sở, tư sở, các xí nghiệp như hỏa xa hay xe điện... Vì đều có mặc đồng phục và trang bị tầm vong vạt nhọn, khẩu hiệu được tập hô to đồng đều, TNTP được đồng bào chú ý và tán thưởng nhất. Dân Quốc Quân của Triệu tương đối cũng khá vì phần đông là thanh niên các trường Trung học đã từng được huấn luyện thể thao. Các toán dân quân Hòa Hảo, đặc biệt là các đơn vị Bảo An được Ông Huỳnh Phú Sổ chỉ định thành lập, hai năm trước khi có Thanh Niên Tiền Phong, vận đồng phục áo quần bà ba đen, đầu chít khăn màu dà, chơn đi không, quần quấn xà cạp đen, trang bị giáo mác, mã tấu ...Các toán diễn hành đi đứng tuy không nhịp nhàng nhưng được đồng bào hai bên đường rất hoan nghinh vì khí phách hiên ngang trên gương mặt nông dân sạm nắng của họ. Trong thành phần tham dự cuộc biểu tình ngày 21 tháng 8, 1945 Triệu đã thấy nhóm Ðệ Tứ cũng có diễn hành mặc dầu không phải là thành viên của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất của Hồ Văn Ngà. Lá cờ Tranh Ðấu của nhóm với hình quả địa cầu có tia chớp như số 4 xẹt ngang thấy phấp phới trước nhóm công nhân tập họp ở góc Massiges-Norodom. Bóng dáng các anh lớn của nhóm rất ít thấy trong nhóm nhân ngày diễn hành này. Phần đông hình như đang họp hành khẩn cấp ở trụ sở Lagrandière. Tạ Thu Thâu thì không còn thấy đến tòa soạn nữa. Nghe bảo là Tạ Thu Thâu đã đi ra Bắc lo việc cứu nạn đói nhưng cũng đi để biết thêm về tổ chức Việt Minh và đồng thời lo tổ chức đảng Thợ thuyền. Phan Văn Hùm đã nhận lời giao phó đi tiếp xúc với Việt Minh vì phần đông các đại biểu đảng phái không biết Việt Minh là ai. Triệu nghe nói lúc ấy chỉ có ông Huỳnh Phú Sổ, Phật giáo Hòa Hảo là có phát biểu như đùa: “...thì Việt Minh có đâu đây, cần gì phải đi xa mà kiếm...”. Sau này khi các sự việc khác xảy ra, nhiều người tự hỏi không biết lúc đó ông Huỳnh Phú Sổ muốn nói Việt Minh đã có tiếp xúc với ông rồi, hoặc ông muốn ám chỉ đến Trần Văn Giàu lúc đó đã tìm cách len lỏi xin vào Ðảng Quốc Gia Ðộc Lập của HồVăn Ngà! Ở Sài Gòn, ngoài đường phố đã bắt đầu thấy có nhiều tin tức về Việt Minh. Trước cuộc biểu tình ngày 21 tháng 8-1945, trên các đường phố Sài Gòn, Chợ Lớn đều được chăng la liệt những tấm biểu ngữ bằng vải trắng, vải màu, hoặc các tấm dệt bằng lá buông vì là loại rẻ tiền, dễ kiếm. Lần đầu tiên, Triệu được thấy các biểu ngữ chữ Nga vì có những chữ viết lộn ngược, khác với cách viết thông thường, nhưng Triệu cũng thấy nhiều biểu ngữ viết na ná giống tiếng Y Pha Nho nhưng không giống hẳn vì Triệu có học qua ngôn ngữ này. Khi hỏi các anh lớn mới biết rằng đó là ngôn ngữ Quốc tế Espéranto. Triệu cũng đã đọc được Anh ngữ nhưng là Anh ngữ trong văn chương học ở trường. Lần này mới có dịp biết “đả đảo” phải nói là “Down with...” vì đi đâu cũng thấy “Ðả đảo chế độ Thực dân”, “Down with Colonialism”. Khẩu hiệu được treo nhiều nhất là “Independence or Death”... Triệu có dịp về Biên Hòa cũng đã thấy nhiều banderole treo ngang các đường phố, nhưng các biểu ngữ tiếng ngoại quốc chỉ có lẻ loi vài tấm mà thôi. Sài Gòn lúc nào cũng là nơi quan trọng để thế giới chú ý. Ngoài các banderole treo ngang đường phố, rất nhiều bích chương, phần đông được viết tay thay vì in, đã được dán trên các tường, nhiều nhất là chung quanh chợ Bến Thành và các chợ khác như Tân Ðịnh, Bà Chiểu, Gò Vấp... Ngay cả về các banderole, Triệu đã thấy có một thay đổi mới, vì các banderole bằng vải đỏ viết chữ trắng hay chữ vàng đã thấy xuất hiện nhiều hơn trước. Cách viết tiếng Nga cũng thấy đều đặn và không có vẻ xô bồ, xô bộn như lúc đầu. Các bích chương đã bắt đầu thay đổi để đưa tin tức hằng ngày cho dân chúng. Tin chiến hạm Richelieu của Pháp chở quân trở lại Ðông Dương được phổ biến làm hoang mang dư luận. Rồi liền sau đó vài hôm lại có tin: “Ba vạn Hồng quân Trung Quốc tại Hoa Nam sẵn sàng bảo vệ, ngăn thực dân Pháp không cho tái chiếm Việt Nam”. Hôm khác lại thấy có bích chương vẽ hình chiến hạm Richelieu với tin tức mới:“Chiến hạm Richelieu đã được lịnh ngừng lại ở đảo Ceylan và sẽ quay trở về Pháp vì ở Ðông Dương hiện có đảng từng chiến đấu cạnh Ðồng Minh nắm chánh quyền”. Sau đó lại có tin đăng trên các báo: “Tướng De Gaulle đã gởi điện tín cho người Pháp ở Ðông Dương, cho biết là không thể gởi một vị Toàn Quyền qua Ðông Dương vì hiện có một chánh đảng Việt Nam đi đôi với Ðồng Minh sẽ thay thế Pháp!”. Những tờ truyền đơn nhỏ đã được dán hay phân phát từ các chợ để giới thiệu Mặt Trận Việt Minh là những đoàn thể đã đứng trong hàng ngũ Ðồng Minh. Việt Minh sẽ dễ dàng “ăn nói” với Ðồng Minh hơn những người đã giúp Nhật đánh Pháp vì Nhật nay là kẻ thù đã đầu hàng. Ðừng để Ðồng Minh coi Việt Nam là bạn của Nhật. Khẩu hiệu: “Chánh quyền về Việt Minh” đã được in và phát càng ngày càng nhiều. Mỗi chiều, Triệu và các bạn cố bắt nghe tin tức thế giới, nhất là đài Hoa Kỳ phát thanh từ Cựu Kim Sơn. Ðài này càng ngày càng được bắt dễ dàng hơn sau khi Tướng Mac Arthur của Mỹ đã đổ bộ tái chiếm Phi Luật Tuân. Chiếc Radio hiệu Phillips này được một nha sĩ tản cư về Sa Ðéc gởi cho chú Triệu và là mối dây liên lạc của Triệu với thế giới bên ngoài vì tin tức do hãng thông tin Domei của Nhật chỉ phổ biến các tin chiến sự có lợi cho Nhật mà thôi. Mỗi lần nghe lời giới thiệu: “Ðây là đài Phát thanh Cựu Kim Sơn...” tiếng nói đưa vọng về từ bên kia bờ Thái Bình Dương, lòng Triệu thấy se thắt lại, nghĩ đến ngày nào đó, nước nhà thật sự độc lập, xuất ngoại tự do, hy vọng mình sẽ có ngày đặt chân lên nhiều viễn xứ... Triệu bắt được tin Việt Minh đã cướp chánh quyền ở Bắc. Chánh phủ Nhân dân Lâm thời được thành lập với chủ tịch Hồ Chí Minh. Các anh lớn xôn xao bàn tính, không biết Hồ Chí Minh là ai. Chú Sáu của Triệu là người đã kiểm điểm lại các gương mặt đang hoạt động ở biên giới Việt, Trung Hoa và cuối cùng đã đưa đến kết luận: Hồ Chí Minh, chính là Nguyễn Ái Quốc, người mà chú đã giúp đưa đường dẫn lối lúc còn ở Xiêm. Chỉ một ngày sau cuộc biểu tình 200.000 người do Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, Triệu được tin có một Ðại tá Pháp (Jean Cédille) nhảy dù xuống Tây Ninh. Một người bạn của Triệu đã tham dự cuộc bắt sống viên Ðại tá này sau một đêm mệt nhọc không ngủ nhưng đã phải giao người Pháp này cho quân đội Nhật vì người Nhật đã ép buộc phải giao Jean Cédille cho họ! Cũng trong ngày đó tức ngày 22 tháng 8, 1945 Triệu lại nghe được đài Cựu Kim Sơn thông báo Hoàng Ðế Bảo Ðại tuyên bố thoái vị. Lễ Thoái vị đã được cử hành hai ngày sau, ngày 24 tháng 8 tại Ngọ Môn. Kiếm và Ấn tỷ, biểu hiệu triều đình Nguyễn, đã được giao lại cho Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận.
Trần Ngươn Phiêu

GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 6) Về quê Cao Lãnh Trở lại Sài Gòn trước cơn khói lửa

Triệu được người chú thứ Sáu từ Sa Ðéc lên đón tản cư về quê nội Sa Ðéc. Ông nội Triệu muốn đem đứa cháu nội đích tôn ra khỏi vùng lửa đạn Sài Gòn. Trên chuyến tàu Nguyễn Văn Kiệu đưa hành khách về Lục Tỉnh nhân dịp này, có rất nhiều học sinh các trường tản cư về quê nên không khí rất nhộn nhịp, vui tươi. Những bài hát mới của Lưu Hữu Phước như Bạch Ðằng Giang, Dòng Sông Hát, Lên Ðàng đã được học sinh đồng ca đến mãi tận khuya mới chấm dứt, để các người trên tàu được an nghỉ. Quê nội của Triệu ở xã Mỹ Long, quận Cao Lãnh, một làng xa xôi ven biên Ðồng Tháp Mười của tỉnh Sa Ðéc. Từ châu thành Sa Ðéc về làng phải dùng phương tiện đò hay ghe, xuồng. Con đường bộ giao thông từ Hồng Ngự đến An Hảo để tiếp nối vào Quốc lộ 4 đi Lục Tỉnh chưa được xây cất. Vào chiều tối, vài nông dân trong làng có cái thú vui leo lên các ngọn dừa cao, nhìn về hướng Sa Ðéc, đón xem đèn hải hành xanh, đỏ của các thuyền tàu di chuyển trên Sông Tiền Giang lên hướng Cam Bốt. Mẹ của Triệu nguyên là con của một công chức trước ở Sài Gòn, trưởng thành trong khung cảnh thành thị. Sau khi thành hôn, về làm dâu trong một gia đình nho phong, lễ giáo ở một thôn dã tít mù ven biên Ðồng Tháp, quả cũng là việc phi thường. Ông nội của Triệu là một nhà Nho, thủ hạ của Phan Ðình Phùng trong thời kháng Pháp. Khi phong trào tan vỡ, làng mạc trong quận Kỳ Anh, vùng Ðèo Ngang bị Pháp thiêu hủy nên ông đã chọn lưu lạc từ Hà Tĩnh vào Nam vì nơi đây đã có ông Bác của Triệu bị Pháp lưu đày ở Nha Mân, Sa Ðéc. Ông nội của Triệu đã được cho làm giáo học ở làng Mỹ Long hẻo lánh này. Ðến khi lập gia đình, bên bà nội của Triệu vốn có tiếng tăm khá giả, đã tặng cho một sở đất rộng trên mười mẫu. Với chí hướng cần cù, ông nội Triệu đã tạo nên một mảnh vườn và một thửa ruộng để nuôi nấng một gia đình hơn mười hai con. Triệu nghe những người trong làng hay nhắc lại là vào thuở trước, ông nội của Triệu mà dân làng gọi là Ông Giáo đã có công khai phá mảnh đất hoang vu này thành mảnh vườn đầu tiên trong vùng.
Ông đã dẫn đường khai lối cho sự phát triển về sau của nhiều người theo dấu chân lập nghiệp. Cách bố trí để tạo dựng đất hoang thành vườn, đã được nhiều dân chúng áp dụng. Dọc theo bờ sông, ông trồng vông gai để ghe thuyền không thể cập bờ bừa bãi. Kế đến là trồng các hàng dừa để có hoa lợi thường xuyên trong năm. Vì vườn nằm dọc theo sông cái, thường có gió to nên ông lại trồng thêm một hàng me nước, thân cây có tiếng rất dẻo để cản gió. Sau đó mới đào mương song song để trồng cam, quít vốn chịu loại đất của tỉnh Sa Ðéc.
Tỉnh Sa Ðéc là nơi Pháp đã chỉ định an trí cho một số nhân vật cách mạng bị Pháp đày vào Nam vì có liên quan đến phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục. Ðặc biệt ngay tỉnh lỵ, có cụ Cử Vũ Hoành. Nhà Cụ thường có khách và các đồng chí tứ phương đến thăm viếng. Pháp cho đặt gần nhà Cụ một quán nước để nhân viên mật thám có nơi canh gác, theo dõi các khách tới lui. Nhắc đến ông, chỉ cần gọi Cụ Cử thì dân Sa Ðéc đều biết. Cụ có dáng ngồi và đi đứng đặc biệt: lưng lúc nào cũng giữ rất thẳng. Cụ thường nói với con cháu: “Lưng tao thẳng vì tao không lòn cúi ai”. Những nhà cách mạng bị Pháp đày vùng Sa Ðéc sống rất khắng khít với nhau. Các chú của Triệu đều ở trọ nhà Cụ Cử khi đến lúc phải theo học trường Tỉnh. Những ngày gần Tết, các chú sau khi đi giẫy mã các thân nhân, đều có phận sự phải giẫy cho mộ của ông Phó bảng Huy, thân phụ của Nguyễn Ái Quốc, trên đường từ làng đến quận Cao Lãnh. Vào thời đó, Nguyễn Ái Quốc chưa mang tên Hồ Chí Minh. Ông Phó Bảng đã mất ở Cao Lãnh trên bước đường luân lạc vào Nam. Sau năm 1975, từ một nấm mộ đất nhỏ bên đường, giữa những nấm mồ vô chủ khác sau Miễu Trời Sanh, nay ngôi mả lại được trùng tu, xây thành một lăng tẩm uy nghi, đồ sộ! Triệu về quê nội, mang trong hành trang một sách tự học Anh văn “L’Anglais sans Maitre” của Xavier de Bouges và bộ “Hán văn Tự học” của Nguyễn Văn Ba. Gia đình bên nội của Triệu vốn từng tham gia các phong trào cách mạng nên tiên đoán là thời cuộc thế giới và trong xứ sắp qua nhiều biến chuyển, xáo trộn. Việc học hành có thể sẽ không suông sẻ như trước. Trong gia đình bên nội, đã từng có cái thông lệ là con cháu trưởng thành được khuyến khích đi xa lập nghiệp, bay nhảy nhưng nếu gặp trắc trở không may, có thể trở về co rụm lại trong đại gia đình bên nội, chuẩn bị những bước tiến mới. Người chú thứ Sáu có phận sự lên Sài Gòn đem Triệu tản cư về quê, vốn đã có một thời gian sống ở Cam Bốt và Thái, hoạt động kinh tài cho các cơ sở cách mạng. Chú là người sống độc thân, tham gia tranh đấu sau khi được qua cái lò huấn luyện của cụ Cử Hoành, nên vẫn được ông nội Triệu thương quý. Chú Sáu Triệu đã phải bỏ công việc làm ăn đang phát đạt ở Nam Vang sau khi được ông nội của Triệu vì thương nhớ con nên gởi cho chú một bài thơ:
Lóng nghe tàu thổi Lóng nghe tàu thổi dạ trông con, Chẳng thấy con về dạ héo von, Nhỏ dại nào rời cha với mẹ, Lớn khôn bao quản nước cùng non. Trời Xiêm mắt ngó hơi chưa mỏi, Ðất Thổ chơn đi dấu đã mòn, Buôn bán nhịp rồi nghe cũng khá, Lóng nghe tàu thổi dạ trông con.
Vì bài thơ của cha gởi nhắn nên chú Sáu của Triệu đã giao phó lại trách nhiệm cho các bạn để trở về, chuyển hướng hoạt động để sống gần nhà. Ngay trước khi rời Nam Vang, chú thấy trong ga ra còn một thùng xăng lớn nên chở tặng một đồng chí thương gia. Hai người cùng đi trên xe nhưng không may bị xe khác đụng. Xe cháy, chú thoát nạn, nhưng đồng chí ngồi cùng xe bị chết cháy. Bao nhiêu của cải riêng tư của chú cũng bị thiêu hủy. Pháp vốn đã từng theo dõi các hoạt động của các đoàn thể, nên truy tố việc này như một cuộc thanh toán đảng phái. Vì vậy, chẳng những chú của Triệu trở thành trắng tay, mà gia đình còn phải tốn kém nhiều tiền của, tranh tụng trước pháp đình để chú thoát vòng tù tội. Trong gia đình từ đó đã coi đất Miên là một miền đất linh thiêng như dân miền Nam thường bảo nhau: “Nam Vang đi dễ, khó về”. Có lẽ vì mang trong đầu ý nghĩ đó nên về sau này Triệu đã thoát nạn trong gang tấc khi có dịp hành sử trên đất Miên trong dịp đưa Việt kiều hồi hương lánh nạn.
Ðược về sống ở đồng ruộng, xa hẳn thị thành, Triệu mới thực sự hiểu được nỗi buồn khi trong đêm vắng, nghe được hồi còi tàu vang dội đưa đến từ sông Cái xa xôi. Sau này lớn lên sống nhiều năm xa đất nước, những khi nghe được còi tàu lanh lảnh báo hiệu để tránh nhau (Corne des brumes) trong các đêm sương mù dầy đặc ở cửa biển Gironde, Bordeaux ở Pháp hoặc ở vịnh San Francisco ở Mỹ, Triệu mới thấm thía nỗi buồn xa xứ. Mỗi lần như vậy, Triệu luôn nhớ đến một đoạn thơ của người chú thứ Sáu thân mến, một đời thương dân, thương nước, nhưng rồi cũng bị Cộng sản thủ tiêu vì khác chánh kiến. Khi bôn ba trên đất Xiêm, đất Thổ, chú có bài “Ðất khách gặp bạn”:
Ngàn dậm xa xôi gặp cố tri, Nỗi mừng rơ rỡ biết mần ri! Mặt ngơ ngẩn mặt trơ như gỗ, Tay bắt chặt tay biết thốt gì. Muốn hỏi bạn chừ về cố quốc? Lại e tự tủi phận còn đi...
Mặc dầu mang tiếng là về làng tản cư tránh bom đạn, nhưng vì tất cả mọi người trong đại gia đình đều có phân công phân việc hằng ngày nên Triệu cũng phải có những giờ giấc học tập nhất định.
Mỗi sáng Triệu tự học Hán văn theo sách chỉ dẫn của Nguyễn Văn Ba. Ðây là những giờ thích thú nhất vì tự do học được các thi, phú của các thi hào danh tiếng như “Quy khứ lai từ” của Ðào Tiềm, hoặc “Tiền Xích Bích”, “Hậu Xích Bích”... của Tô Ðông Pha... Sau hai giờ học tự do đó phải ăn mặc chỉnh tề vì đến giờ học với ông nội. Sáng sớm khí trời còn mát nên Ông lo việc vườn tược. Khi mặt trời đã lên cao, trời bắt đầu nóng, Ông mới vào nhà giảng sách cho các cháu. Trong gia đình, có những buổi mọi người phải mặc áo quần sạch sẽ mới được phép ngồi vào bàn. Ðó là vào giờ cơm, để tỏ lòng biết ơn các nông dân đã sản xuất thức ăn và khi ngồi vào bàn học để tỏ lòng kính trọng với bực hiền triết. Mặc dầu việc giảng dạy được thực hành theo lối dạy cổ điển nên nhiều khi học rất ngán, nhưng vì được nghe đi, nghe lại nhiều lần, những câu như “Ðại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện...” nên kết quả là những lời cổ nhân đã thật sự dần dần thấm vào tâm não nên không thể quên được. Buổi chiều, thời gian dành tự học Anh văn, Triệu được hoàn toàn tự do, thoải mái tự sắp xếp công việc. Ở nhà quê, tối chỉ có đèn dầu dừa vừa đủ sáng, không thể học hành gì được nên cả nhà thường phải đi ngủ sớm, chỉ trừ bà nội Triệu lần chuỗi đọc kinh trước bàn Phật. Sáng tinh sương, Triệu thích nhất là nằm nghe được tiếng ông Nội thức từ sớm, vừa ngồi thưởng thức uống trà, vừa kể cho con cháu nghe những chuyện hay, tích cũ, những kinh nghiệm Ông đã trải qua để hướng dẫn lớp hậu sinh. Triệu và các con cháu trong nhà thường gọi các chuyện đó là “Những bài học lúc rạng đông”, khó có thể quên được. Nhờ lối kiến trúc cổ điển nhà ba gian, hai chái, đại gia đình cùng sống quây quần, nên Triệu mới có được cơ hội được dạy dỗ như thế. Ngày nay, với kiến trúc tân thời, nhà được xây cất với những phòng riêng biệt, cơ hội được cùng học hỏi như vậy thật khó có thể thực hiện. Cuộc sống tản cư êm đềm trôi qua. Ở quê, không điện, không có radio, chỉ vài hôm có được vài tờ báo từ Sài Gòn gởi về, khiến Triệu mù tịt tin tức. Nhưng bỗng một hôm, có người liên lạc cấp tốc từ Sài Gòn về cho hay Nhật đã lật đổ chánh quyền Decoux. Dân chúng quận Cao Lãnh gấp rút chuẩn bị họp mít tinh. Những nhân vật cách mạng bấy lâu mai danh ẩn tích trong vùng Cao Lãnh, sau cuộc đàn áp của Pháp vào thời Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay bắt đầu xuất hiện. Những ý kiến chính trị khác biệt đã bắt đầu ló dạng. Một số đông dân chúng vui mừng thấy chánh quyền thực dân Pháp đã bị lật đổ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Ðại đã tuyên bố hủy bỏ các hòa ước bị Pháp bắt buộc ký từ trước, một nội các Việt Nam sắp được thành hình... Nhưng thỉnh thoảng cũng thấy ít nhiều truyền đơn dán ở các gốc cây, ở các chợ, hô hào chống “phát xít Nhật”. Ðất Cao Lãnh là một trong các nôi cách mạng miền Nam, những việc thay đổi thường bắt nguồn trước tiên ở đây. Mặc dầu sau cuộc đảo chính Pháp, đại diện Nhật có tuyên bố là Nam Kỳ vẫn giữ tình trạng không thuộc triều đình Huế nhưng vì không còn sự hiện diện của chánh quyền cai trị Pháp nên các hoạt động chánh trị đã ào ạt xuất hiện. Nhà cụ Cử Vũ Hoành lúc này tấp nập khách vì không ai còn sợ bị mật thám Pháp theo dõi khi đến thăm cụ. Chú Sáu của Triệu được cụ khuyên là nên trở lên Sài Gòn tìm hiểu thêm tình hình và nối tiếp hoạt động. Triệu đã được chú cho tháp tùng, dự định sẽ thăm thành phố trong một thời gian ngắn rồi về lại Mỹ Long. Khi lên trở lại Sài Gòn, Triệu mới nhận thấy khí thế cách mạng đã thật sự bộc phát trở lại. Không ai còn e dè bàn chuyện chính trị như trước kia. Các tổ chức hội đoàn hoạt động bí mật trước kia nay đã công khai hô hào dân chúng tham gia. Trong khi chú của Triệu đi suốt ngày gặp gỡ bạn bè, hoặc tiếp xúc với các nhiều yếu nhân Nhật, Triệu được các bạn học vùng Tân Bình, Gia Ðịnh móc nối để đẩy mạnh phong trào Truyền bá Quốc ngữ . Mọi người đều ý thức phải lo ngay vấn đề giáo dục quần chúng để chung lo củng cố nền độc lập vừa thấy ló dạng. Những buổi văn nghệ nhỏ đã được tổ chức để giới thiệu và lôi cuốn những người còn mù chữ theo học các lớp Truyền bá Quốc ngữ. Một giáo viên đã giới thiệu cho các buổi trình diễn một học sinh cỡ sáu, bảy tuổi nhưng có một giọng hát hấp dẫn, trong suốt như pha lê. Mỗi lần trình diễn, phải bắt một ghế cao để ca sĩ tí hon này đứng hát cho thiên hạ nghe. Giới bình dân rất tán thưởng khi nghe em ráng gân cổ hát bài: “Gieo Ánh Sáng”
Lòng vui sướng, anh em ơi, tim thấm nồng, Tình đồng bào, trai đời mới, Sao cho nên tiếng trai, Cùng đi gieo khắp nơi Vào lòng người đọa đầy Cùng đi gieo khắp nơi chữ ta Nơi hương thôn tối tăm Ðời mịt mù xót xa, Tiếng kêu than, tiếng kêu vang, đồng quê. Ðánh thức giấc toàn dân Chìm đắm trong cơn mê Nhọc nhằn mới nên danh Thanh niên!
Mấy chục năm về sau, Triệu gặp lại em ca sĩ tài hoa nhưng nay lại là một danh tướng của quân đội VNCH đã đánh một trận để đời trước khi miền Nam mất hẳn về tay Cộng sản: “Trận Xuân Lộc”. Ðó là tướng Lê Minh Ðảo.
Nỗi vui mừng lớn nhất vào thời buổi này là hôm tiếp đón các nhà cách mạng bị đày từ Côn Ðảo trở về. Bác sĩ Trần Tuấn Phát đã được Thủ tướng Trần Trọng Kim ủy nhiệm liên lạc với Nhật để tổ chức chuyến tàu đưa các nhà ái quốc bị Pháp lưu đày ở Côn Sơn trở về đất liền. Xe đưa các cựu tù nhân từ bến tàu Khánh Hội về Tòa Thanh tra Lao Ðộng đường Trần Hưng Ðạo. Các bạn trẻ học sinh Petrus Ký đã nhận được ngay hình dáng cao lêu nghêu với gương mặt phúc hậu của giáo sư Trần Văn Quế. Gia đình giáo sư đã phải tranh đua với đám thanh niên đang mừng thầy thoát nạn, mới kéo được giáo sư về nhà. Các đoàn thể hoạt động nổi bật lúc bấy giờ là Cao Ðài với tổ chức bán quân sự Hei Ho. Giáo phái Cao Ðài đã được móc nối từ trước với Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể nên đã tuyển chọn nhân công phụ trách đóng các tàu cây chuyên chở cho quân đội Nhật ở bến Khánh Hội. Ban đêm, các công nhân đóng tàu được huấn luyện thành đội ngũ quân sự. Một nhân vật khác là ông Hồ Văn Ngà đã tổ chức Ðảng Việt Nam Quốc Gia, nay có cơ hội công khai phát triển đảng thành đảng Quốc Gia Ðộc Lập. Ông là một trong 19 sinh viên Việt Nam đã bị Pháp trục xuất về Việt Nam trên tàu Athos II, rời cảng Marseille ngày 24 tháng 6 năm 1930, sau cuộc biểu tình trước Ðiện Élysée, nơi cư ngụ của Tổng thống Pháp, để kêu gọi giảm án cho các liệt sĩ Yên Bái bị kết tội tử hình. Cùng đi trên tàu về nước là những gương mặt sáng giá trong lịch sử chống thực dân Pháp: Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Giàu, Huỳnh Văn Phương... Sau ngày đảo chánh Pháp, chánh quyền Nhật ở Nam Kỳ do Thống đốc Minoda đại diện đã có ý định tổ chức thanh niên như thời Ducoroy. Lãnh sự Iito được bổ sung làm Tổng ủy viên Thanh niên và Thể dục Ðông Dương. Iito đã nhờ Hồ Văn Ngà phụ trách. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là Tổng Bí thơ của đảng Quốc gia Ðộc lập được Hồ Văn Ngà phối hợp với các nhân sĩ như Kha Vạng Cân, Nguyễn Văn Thủ, luật sư Thái Văn Lung.... để tổ chức Thanh Niên Tiền Phong. Ngày 18 tháng 3, 1945 tức hơn một tuần sau ngày Nhật đảo chánh 9 tháng 3, lần đầu tiên ở Sài Gòn đã có một cuộc biểu tình khổng lồ, công khai, trên 50.000 người ở sân thể thao Vườn Ông Thượng. Dân chúng Sài Gòn đã nô nức hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Văn Ngà tham dự lễ tưởng niệm các nhà ái quốc Hoàng Hoa Thám, Phan Ðình Phùng, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh, Dương Bá Trạc. Hài cốt hỏa thiêu của Dương Bá Trạc đã được ông Trần Văn Ân gởi về từ Chiêu Nam (Singapour). Một bàn thờ Tổ Quốc với một đại kỳ màu vàng trên có khắc hai chữ Việt Nam đỏ chói được dựng lên giữa sân, khói trầm nghi ngút. Lần lượt lên diễn đàn có: Hồ Văn Ngà chủ tịch Việt Nam Quốc gia Ðộc lập Ðảng, Trần Quang Vinh đại biểu Cao Ðài, Nguyễn Vĩnh Thạnh đoàn trưởng Cận vệ quân và Nội ứng Nghĩa binh (đã cộng tác với quân đội Nhật trong ngày đảo chánh Pháp), luật sư Diệp Ba... Những lời kêu gọi dân chúng tham gia cùng đứng lên củng cố hàng ngũ quyết tâm xóa tan tàn tích thực dân Pháp, những lời tha thiết tưởng niệm các nhà ái quốc đã từng hy sinh cho đại cuộc chống ngoại xâm, đã được hùng hồn nói lên trong bầu không khí tự do, phấn khởi của một dân tộc không còn e dè, lo ngại kẻ thù như trước. Triệu đã thấy lòng tràn ngập một niềm hãnh diện vô biên trước tương lai xán lạn của đất nước. Triệu nâng niu tờ truyền đơn in trên giấy đỏ hồng, kêu gọi dân chúng tham gia mừng ngày nước Việt vừa thoát ách thực dân. Ðể đánh dấu ngày lịch sử, Triệu đã trân trọng dán tờ truyền đơn vào Nhật ký. Phong trào Thanh Niên Tiền Phong đã vô cùng sôi động, lôi cuốn quần chúng thanh niên, thanh nữ. Ðầu đội nón rơm to vành, đồng phục áo sơ mi tay ngắn trắng, quần sọt xanh dương sậm, trang bị tầm vong vạt nhọn, các đội ngũ thanh niên đã hăng hái xuổng cuốc giúp dọn dẹp các khu dân cư đổ nát vì bom đạn. Những buổi tập hát đồng ca hành khúc tuổi trẻ, các buổi huấn luyện cứu thương đã là những dịp để thanh niên bắt đầu ưa thích hoạt động tập thể. Triệu đã có được dịp về quê ngoại Biên Hòa để sinh hoạt chung với các bạn học cũ. Ðây là thời kỳ tân nhạc được phổ biến và được dân chúng hưởng ứng, tán thưởng. Tuy nhiên, vì trong chương trình học thời bấy giờ, không có giờ dạy nhạc, nên người có kiến thức về nhạc còn rất hiếm. Các bài hành khúc được học và truyền lại, tam sao thất bổn. Triệu và các bạn được phái đi các xóm để dạy lại cho đồng nhất. Triệu vẫn còn nhớ mãi những ngày được một giáo viên vùng Hóa An mời về làng để dạy hát cho toán thanh niên ông phụ trách. Ông nhận thấy là những bài hát ông được nghe ở tỉnh Biên Hòa nó khác xa những bài của các toán của ông. Triệu đã xách đàn mandoline về làng dạy lại nhưng phải tế nhị gây cảm tình để không làm mất lòng những người đã có công dạy trước. Sau buổi lửa trại đêm đầu đến làng, không mùng màn mà trời về đêm ở Biên Hòa thường rất lạnh nên Triệu đã trăn trở không ngủ được. Ðến giữa khuya mới thấy cuộn chiếu quanh người theo dân chúng thường làm, cũng được ấm không thua gì được đắp mền bông. Người nông dân Nam Bộ hay chun vào nóp ngủ, vừa tránh được muỗi mòng lại rất ấm áp. Không hiểu vì sao dân miền núi Biên Hòa lại không dùng nóp? Không khí chính trị tại Sài Gòn đã khởi sắc náo nhiệt vì các báo nay được tự do phát biểu ý kiến, không còn bị kiểm duyệt gắt gao như thời Pháp. Ông Trần Văn Ân đã từ Chiêu Nam trở về và chủ trương tờ Hưng Việt, được coi như tờ báo phát ngôn chánh thức của Hồ Văn Ngà. Báo Thanh Niên của nhóm Huỳnh Tấn Phát, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Nghệ ra đời năm 1943 nhưng bị Pháp đóng cửa sau năm 1944, đã thấy xuất hiện trở lại, lời lẽ không còn phải e dè như thời còn Pháp. Các ý kiến đã thấy có chiều thay đổi vì các anh em sinh viên trong nhóm Tân Dân Chủ, nghe đồn nay đã theo các lớp huấn luyện chính trị của Trần Văn Giàu và được dược sĩ Trần Kim Quan yểm trợ phương tiện. Các buổi học tập do Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách thường được tổ chức ở văn phòng kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát ở 68-70 đường Mayer ( Ðường Hiền Vương). Việc gì cũng được nhóm Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng đến hỏi ý kiến của quân sư Trần Văn Giàu. Huỳnh Văn Tiểng có viết trong quyển “Làm Ðẹp Cuộc Ðời” (Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội- 1995, trang 113-114) về việc đã cùng Huỳnh Tấn Phát đến gặp luật sư Huỳnh Văn Phương, chú ruột của Huỳnh Tấn Phát, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Theo Huỳnh Văn Tiểng, ông Phương có nói: “Tao định sẽ ra làm việc với Nhật. Vì lúc này Việt Minh chưa thể ra được. Tụi bây nói với mấy anh trên việc này. Các anh có cần gì, cho tao hay, tao sẽ tìm cách đáp ứng”. Sau đó Phát và Tiểng đã báo cáo lại với lãnh đạo, thì được trả lời: “Ai làm gì cho đất nước có lợi cho lúc này thì cứ làm”, đồng thời nêu việc cần làm gấp là thay đổi tức khắc bộ máy công an của Pháp để lại và việc cần được trang bị súng. Những người bị Pháp bắt lúc bấy giờ như Trần Văn Trà, Bùi Văn Dự... đã được Huỳnh Văn Phương trả tự do. Huỳnh Văn Tiểng và Huỳnh Tấn Phát có đêm đã đem xe lớn vào bót Catinat chở súng ngắn mới mà ông Phương đã đào tìm ra được vì cò Bazin đã chôn giấu trước khi Nhật đến chiếm. Ông Phương còn để cho Thanh Niên Tiền Phong được sử dụng sân tập bắn của cảnh sát ở Chợ Quán. Thế mà về sau, ngay vào những ngày đầu mở màn cuộc Kháng Chiến Nam Bộ, Trần Văn Giàu đã cùng với Nguyễn Văn Trấn xử tử Huỳnh Văn Phương ở Tân An vì tội “cộng tác với Nhật”! Tờ báo La Lutte của nhóm Ðệ Tứ vào thời buổi này được xuất bản với tên Việt: Tranh Ðấu, có biểu hiệu là hình trái đất tròn, giữa có ánh sét chớp như số 4. Ông Phan Văn Hùm, trước bị Pháp xử biệt cư ở Tân Uyên ( Biên Hòa) nay đã về lại Sài Gòn, thường xuyên có mặt để lo cho tờ báo. Triệu thường theo bạn là Phan Phục Hổ, con ông Hùm đến đây vì thích thú theo dõi nghề làm báo. Hổ và Triệu là hai tay “chạy hiệu” không công, khi ông Hùm cần liên lạc trao đổi giấy tờ trong thành phố. Nơi đây Triệu thường nghe nhiều bàn luận về một nhân vật mà Triệu có được nghe biết tiếng là Ông Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo. Người thường có mặt ở tòa soạn là ông quản lý Lê Văn Vững. Ông cũng là một thủ lãnh Thanh Niên Tiền Phong vùng Da Kao. Phan Văn Hùm mỗi lần thấy ông Vững đến dựng xe đạp trước cửa nhà báo, thường hay gọi đùa “Anh Thủ lãnh đến rồi”. Một hôm có mặt Tạ Thu Thâu và Trần Văn Thạch, ông Vững cười nói: “Các cha cứ lo bàn đại sự mà chưa lo đến đào tạo tổ chức thanh niên”. Ông chỉ vào Hổ và Triệu và nói thêm: “Các anh không lo huấn luyện ngay từ bây giờ mấy thằng “cóc keng” như hai thằng này, ngày sau ai giúp sức các anh. Không lẽ Phạm Ngọc Thạch nó lo tổ chức thành lập Thanh Niên Tiền Phong để nó dâng cho các anh sao?”. Ông Hùm nói thêm: “Còn bao nhiêu việc phải lo. Mỗi tối nghe radio tin tức thế giới dồn dập chiến sự, Ðồng Minh đang trên đà thắng Phát xít, phải lo chỉnh đốn gấp hàng ngũ anh em. Chuyện tổ chức thanh niên gấp đó, các anh em lo giùm một tay. Còn chuyện lớn hơn nữa là tổ chức quần chúng nông dân, chưa làm tới đâu hết!”. Trần Văn Thạch hỏi ông Hùm: “Anh từng nghiên cứu Phật Giáo, ý kiến anh về Huỳnh Phú Sổ ra sao?”. Ông Hùm:
- Tôi viết nhiều về Duy vật Biện Chứng pháp, không phải là người Duy tâm, nhưng nhiều khi có những chuyện không hiểu được. Ban đầu tôi cũng nghi ngờ Huỳnh Phú Sổ, nhưng không hiểu với tuổi còn trẻ và học thức cỡ Sơ học, làm sao ông Sổ lại có được kiến thức Phật giáo rất uyên thâm, dịch rất sát các lời chú nguyện và kinh Phật, làm được cả thơ chữ Hán?. Cách thực hành Phật giáo một cách bình dân của ông là theo Phật Thầy Tây An, nhưng đó mới thật là đúng lời Phật dạy, không thờ phượng hình tướng, không xây dựng chùa chiền, không sử dụng chuông mõ. Nói về cả Phật Thích Ca, anh Thâu là dân thích Toán và Khoa học, anh nên nhớ là hơn 2400 năm về trước, với khả năng quán chiếu, Phật đã biết trong chén nước uống có bao nhiêu sanh vật tí ti, Phật đã biết vũ trụ có trên ba ngàn đại thiên thế giới trong đó giải ngân hà của mình chỉ là một đơn vị nhỏ nhoi. Mình không muốn đụng đến một tôn giáo khác nhưng phải nói trong lúc đó, ngay khoảng thế kỷ 14, các ông tu sĩ giáo phái nầy vẫn còn lay hoay kết tội những người như Galilé, đã khám phá là trái đất tròn và quay xung quanh mặt trời. Sau cuộc Nam Kỳ Khởi Nghĩa thất bại, nông dân đã quy tụ theo ông Huỳnh Phú Sổ. Nay có hằng triệu tín đồ nông dân được ông giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo hướng dẫn theo tinh thần công bình xã hội. Không giúp ông Sổ, coi chừng tụi staliniên nó nhảy vào chớp hết.
Ông Thạch nói đùa:
- Người ta gọi anh Hùm là ông ba rưởi thiệt rất đúng: Ðệ tứ không ra Ðệ tứ, Ðệ tam nó cũng không ưa.
Lê Văn Vững thêm vào:
- Tôi và anh thợ trồng răng (Ouvrier dentaire) Lê Tường Khai, tụi tôi ở gần rạp Asam và Casino Dakao xin làm chứng việc này: Mấy lần anh Hùm đọc diễn văn ở rạp Casino, vợ ảnh, chị Mai Huỳnh Hoa là người to tiếng nhất hô: “Ðả đảo Phan Văn Hùm”.
Tạ Thu Thâu cười nhưng nghiêm nghị:
-Tôi cần đi ra Bắc trong nay mai, xin nhờ anh Hùm cho tôi gặp lại ông Huỳnh Phú Sổ trước khi đi. Mình cũng nên làm các điện văn kêu gọi Pháp thả về nước ông Phạm Công Tắc bên Cao Ðài và hai anh Ngô Chỉnh Phến cùng Ðào Hưng Long của mình còn bị tụi nó giam ở Madagascar.
Ðó là lần chót Triệu còn ghi trong ký ức hình ảnh giáo sư và nhà ái quốc mang kính cận thị nặng, da ngăm đen, mình cao trên hơn một thước bảy (1), lãnh tụ Ðệ Tứ Việt Nam: Tạ Thu Thâu. (1) Một nhà văn có viết về “Tạ Thu Thâu, mình cao một thước tám”. Năm 2007, một nhân vật ở Quảng Ngãi đã gởi cho bà Tạ Thu Thâu ở Pháp một thẻ căn cước của Tạ Thu Thâu do chánh quyền Pháp cấp ngày 8-4-1926. Di vật này được một chứng nhân lưu giữ sau khi Tạ Thu Thâu bị giết ở bờ biển Mỹ Khê. Căn cước ghi: “Tạ Thu Thâu, Giáo sư, sanh năm 1904, cao 1m 73”. (T.N.P.)